Tín dụng xanh thúc đẩy chuyển đổi kinh tế bền vữngBài cuối: Tín dụng xanh dễ mà khó
Tín dụng xanh được kỳ vọng là động lực thúc đẩy phát triển bền vững và nguồn vốn này được khẳng định là dồi dào nhưng trên thực tế, không phải mọi doanh nghiệp, người dân đều có thể tiếp cận. Khi tiêu chuẩn "xanh" trở thành điều kiện để vay vốn, một nghịch lý xuất hiện: người cần vốn nhất lại là người khó tiếp cận vốn nhất.
Tiêu chuẩn xanh - rào cản vô hình
Chia sẻ về thực trạng tín dụng xanh, T.S Bùi Thanh Minh, Phó giám đốc Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) cho biết, nhu cầu của nền kinh tế đối với nguồn vốn này rất lớn. Trong quá trình làm việc với các quỹ đầu tư và ngân hàng, nhiều tổ chức khẳng định họ có "nguồn vốn dồi dào, thậm chí sẵn sàng cho vay đối với các dự án xanh".
Tuy nhiên, tính đến 30/11/2025, dư nợ tín dụng xanh đạt khoảng 750.000 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân 21%/năm giai đoạn 2017 - 9/2025 (cao hơn mức tăng trưởng dư nợ tín dụng chung của cả nền kinh tế) nhưng đây vẫn là con số khiêm tốn. Điều này cho thấy có một khoảng cách giữa chủ trương và thực thi.
Đơn cử tại Thanh Hóa, không ít doanh nghiệp chế biến gỗ ở xã Như Thanh hay Luận Thành nhận ra, muốn đi xa, muốn xuất khẩu thì không thể tiếp tục sản xuất theo cách cũ. Song, khi bắt tay vào chuyển đổi, họ lại vấp phải một "bức tường vô hình": tiêu chuẩn xanh. Các tiêu chí như FSC, ESG hay yêu cầu về phát thải, truy xuất nguồn gốc… ngày càng trở nên phổ biến. Song, các tiêu chí này chưa được chuẩn hóa thống nhất, khiến doanh nghiệp lúng túng trong việc xác định mình đang ở đâu và cần làm gì để tiếp cận tín dụng xanh.

"Thực tế triển khai cho thấy cần có hệ thống tiêu chí rõ ràng, đồng bộ để đánh giá dự án xanh, giúp cả ngân hàng và doanh nghiệp có cơ sở triển khai" - đại diện Agribank Thanh Hóa cho biết.
Không ít doanh nghiệp có nhu cầu chuyển đổi, có thị trường, nhưng không đủ nguồn lực để đáp ứng các yêu cầu ban đầu về chứng nhận, công nghệ và quy trình sản xuất. Trong khi đó, về phía ngân hàng, việc mở rộng tín dụng xanh cũng không hề đơn giản. Các dự án xanh thường có chu kỳ đầu tư dài, chi phí lớn, trong khi hiệu quả tài chính khó đo lường trong ngắn hạn. Ngoài ra, việc thiếu dữ liệu đánh giá rủi ro môi trường - xã hội khiến các tổ chức tín dụng phải thận trọng khi quyết định cho vay.
"Để tín dụng xanh phát triển hiệu quả, cần có cơ chế hỗ trợ đồng bộ từ chính sách: thống nhất tiêu chuẩn đánh giá; cơ chế bảo lãnh, chia sẻ rủi ro; dữ liệu và công cụ đánh giá cũng như các văn bản hướng dẫn chi tiết từ các cơ quan quản lý trong thực hiện các bộ tiêu chí và danh mục dự án xanh" - đại diện Agribank nhấn mạnh.
Trên thực tế, bên cạnh các khó khăn từ chính sách trong nước, các tổ chức tín dụng còn vấp phải rào cản trong việc tiếp cận nguồn vốn quốc tế. Theo bà Nguyễn Thị Thu Hà, Giám đốc Trường Đào tạo cán bộ Agribank, Phó Trưởng ban Chỉ đạo ESG của Agribank, dù dòng vốn xanh từ quốc tế đang tăng, nhưng lãi suất đi kèm lại chưa đủ hấp dẫn so với huy động vốn trong nước, trong khi điều kiện, tiêu chí cho vay lại khắt khe và yêu cầu tuân thủ cao.
Đặc biệt, Việt Nam không còn được xếp vào nhóm quốc gia thu nhập thấp nên cũng không còn được hưởng ưu đãi lãi suất từ các tổ chức tài chính quốc tế. Đây là yếu tố khiến nhiều tổ chức tín dụng khó tiếp cận vốn vay hoặc vốn ủy thác quốc tế với chi phí hợp lý.
Sớm gỡ các rào cản
Tín dụng xanh đang mở ra một hướng đi mới, nhưng cũng đặt ra một câu hỏi lớn là làm thế nào để quá trình "xanh hóa" không trở thành rào cản, mà thực sự là cơ hội cho tất cả.
Chia sẻ về vấn đề này, Giám đốc Công ty TNHH lâm sản Đại Phát Vũ Đăng Bắc cho rằng, điều nhiều người dân, doanh nghiệp như anh cần là sự hỗ trợ trong việc bảo lãnh tín dụng xanh, đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ; có cơ chế hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay thực hiện dự án xanh và phát triển vùng nguyên liệu bền vững, tương tự như chính sách hỗ trợ cho lĩnh vực ưu tiên. Ngược lại, Nhà nước cũng cần xem xét ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cho các ngân hàng đối với khoản thu nhập từ hoạt động tài trợ dự án xanh...
Trên thực tế, những doanh nghiệp có năng lực chuyển đổi nhanh sẽ tiếp cận được vốn, mở rộng sản xuất và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Ngược lại, những doanh nghiệp chậm thích ứng có nguy cơ bị loại khỏi thị trường. Và tín dụng xanh, nếu chỉ vận hành theo logic thị trường, sẽ khó có thể bao trùm toàn bộ nền kinh tế. Bởi lẽ, những đối tượng cần hỗ trợ nhất - doanh nghiệp nhỏ, hộ sản xuất, lại là những đối tượng khó tiếp cận vốn nhất. Do đó, vai trò của Nhà nước trong việc hoàn thiện thể chế, hỗ trợ chi phí chuyển đổi và tạo hành lang pháp lý rõ ràng là vô cùng cần thiết.
Về phía nhà đầu tư vốn, Giám đốc Agribank Nam Thanh Hóa, Trần Văn Thành cho hay, trong cơ cấu tín dụng, Agribank Nam Thanh Hóa dành nguồn lực lớn cho lĩnh vực lâm nghiệp với dư nợ đạt gần 4.400 tỷ đồng. Riêng đối với lâm nghiệp bền vững - lĩnh vực gắn trực tiếp với sinh kế của người dân miền núi, dư nợ hiện đạt hơn 1.113 tỷ đồng. Nếu tính theo chuỗi liên kết từ trồng rừng đến chế biến, xuất khẩu lâm sản, tổng dư nợ đã lên tới 1.819 tỷ đồng, với hàng nghìn khách hàng đang còn dư nợ, phần lớn là các hộ dân. Đáng chú ý, dòng tín dụng không dàn trải mà tập trung mạnh vào khu vực nông nghiệp, nông thôn, chiếm trên 75% tổng dư nợ. Trong đó, tín dụng "xanh" đang nổi lên như một hướng đi chủ đạo, với tổng dư nợ đạt khoảng 6.900 tỷ đồng, tương đương 32% tổng dư nợ toàn chi nhánh.
Có thể thấy, các mô hình tín dụng xanh do Agribank đầu tư ở Thanh Hóa đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn vốn cần thiết nhằm đạt được các mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam cũng như của Liên hợp quốc, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến môi trường và khí hậu; góp phần quan trọng trong việc tái cấu trúc nền nông nghiệp cũng như nền kinh tế. Song, để nguồn vốn này chảy đúng hướng, chảy nhanh và chảy mạnh, rất cần sự vào cuộc của Chính phủ cũng như các bộ, ban ngành liên quan trong việc hoàn thiện các chính sách, hành lang pháp lý... để tháo gỡ vướng mắc cho dòng tín dụng xanh.

