Tìm động lực mới cho mô hình phát triển của Việt Nam
Tại Hội thảo khoa học quốc gia “Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới” sáng 20/8, các chuyên gia nhấn mạnh, động lực tăng trưởng mới cần được tạo dựng từ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao năng lực của doanh nghiệp Việt Nam.

Sáng 20/8, Đại học Kinh tế Quốc dân phối hợp với Báo Nhân Dân, Tạp chí Cộng sản và Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia “Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới”.
PGS.TS Bùi Đức Thọ, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân, cho rằng Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt phát triển mang tính thời đại. Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã đặt ra yêu cầu không thể tiếp tục dựa vào mô hình tăng trưởng cũ vốn phụ thuộc nhiều vào tài nguyên, vốn và lao động giá rẻ.
“Yêu cầu của kỷ nguyên mới đòi hỏi một mô hình phát triển hoàn toàn mới. Đó là mô hình dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và quản trị quốc gia hiện đại”, PGS.TS Bùi Đức Thọ nói.
Chuyển trọng tâm sang chất lượng và hiệu quả
Nhìn lại 40 năm Đổi mới, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân Lê Quốc Minh đánh giá Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu có ý nghĩa lịch sử. Đời sống người dân được cải thiện, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, vị thế và uy tín của đất nước được nâng cao.
Theo ông Lê Quốc Minh, nhìn lại chặng đường này không chỉ để khẳng định thành tựu, mà quan trọng hơn là nhận diện giới hạn của mô hình phát triển hiện nay, những điểm nghẽn cần tháo gỡ và động lực mới cần kiến tạo. Qua đó, tìm lời giải cho yêu cầu tạo bước chuyển về chất, phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn tới.
Bối cảnh hiện nay đã rất khác so với thời điểm bắt đầu Đổi mới. Vì thế, nền kinh tế cần chuyển mạnh từ tăng trưởng dựa vào vốn, tài nguyên và lao động sang năng suất, tri thức, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao; từ tham gia sang nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu; từ tiếp nhận sang làm chủ, sáng tạo công nghệ.
Theo Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, mục tiêu cuối cùng của phát triển không chỉ là đạt con số GDP cao hơn, mà phải nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và sức mạnh tổng hợp của quốc gia trên nền tảng tự cường.
Mô hình mới vì vậy cần giải quyết hài hòa giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng; hiệu quả kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; hội nhập sâu rộng với nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế. Giá trị văn hóa, nguồn lực con người và ổn định xã hội cũng phải trở thành sức mạnh nội sinh cho phát triển.
Những yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi các động lực tăng trưởng truyền thống đang dần bộc lộ giới hạn.
GS.TS. Nguyễn Trọng Hoài, giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, dẫn dữ liệu cho thấy tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) của Việt Nam còn thấp so với các quốc gia đang phát triển và nền kinh tế mới nổi. Tốc độ tăng vốn công nghệ thông tin và chất lượng lao động cũng còn hạn chế.
Theo tính toán được chuyên gia đưa ra, để bắt kịp các nền kinh tế mới nổi, tăng trưởng chất lượng lao động của Việt Nam phải cao gấp bốn lần, vốn đầu tư công nghệ thông tin tăng gấp năm lần. Trong kịch bản cải cách, tăng trưởng TFP cần từ khoảng 0,2% lên trung bình 2% mỗi năm.
Từ thu hút nguồn lực đến tạo năng lực nội sinh
Để tạo động lực tăng trưởng mới, GS.TS Nguyễn Trọng Hoài cho rằng trọng tâm cải cách cần đặt vào đầu tư công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng nội lực của doanh nghiệp Việt Nam. Thu hút FDI thế hệ mới cũng cần gắn chặt hơn với chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Về chính sách, chuyên gia đề xuất chuyển từ mô hình “1i”, chủ yếu dựa vào Investment (đầu tư), sang “3i”, gồm Investment (đầu tư), Infusion (lan tỏa công nghệ) và Innovation (đổi mới sáng tạo). Theo đó, nền kinh tế không chỉ cần thu hút thêm vốn mà phải nâng năng lực của doanh nghiệp trong nước, tăng khả năng hấp thụ và lan tỏa công nghệ từ khu vực FDI, đưa doanh nghiệp Việt lên những nấc thang có giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Yêu cầu tăng nội lực cũng được GS.TS Sử Đình Thành, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, nguyên Giám đốc Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, nhấn mạnh khi phân tích khả năng đạt tăng trưởng hai con số của Việt Nam.
Từ dữ liệu của 165 quốc gia trong hơn nửa thế kỷ, nghiên cứu xác định bốn yếu tố có vai trò quan trọng đối với khả năng bứt phá tăng trưởng, gồm tỷ lệ đầu tư, tỷ trọng ngành chế biến chế tạo giá trị cao, quy mô chi tiêu chính phủ và khả năng kiểm soát lạm phát.
Đặt trong bối cảnh Việt Nam, GS.TS. Sử Đình Thành nhận định nền kinh tế có độ mở thương mại cao và thu hút lượng lớn FDI, nhưng khả năng chuyển hóa những nguồn lực này thành năng lực nội tại, đặc biệt trong ngành chế tạo, còn hạn chế. Do đó, Việt Nam cần tránh phụ thuộc vào số lượng vốn đầu tư, thay vào đó nâng cao năng lực nội sinh và dịch chuyển cơ cấu sang những ngành có hàm lượng giá trị gia tăng cao.
Dòng vốn FDI và lợi thế từ độ mở thương mại cũng cần được chuyển hóa tốt hơn thành công nghệ, năng lực sản xuất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước. Khi hội nhập gắn với nâng cao nội lực, nền kinh tế mới có điều kiện dịch chuyển mạnh hơn về cơ cấu và vị trí trong chuỗi giá trị.
Theo GS.TS. Sử Đình Thành, tăng trưởng hai con số bền vững đòi hỏi Việt Nam dịch chuyển cơ cấu ngành sang những lĩnh vực có tỷ suất sinh lời và giá trị gia tăng cao, đồng thời duy trì ổn định kinh tế vĩ mô thông qua kiểm soát lạm phát và nâng cao hiệu quả chi tiêu của Chính phủ.
Có thể thấy, sau 40 năm Đổi mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là huy động thêm nguồn lực cho tăng trưởng, mà quan trọng hơn là nâng hiệu quả sử dụng và chuyển hóa các nguồn lực thành năng suất, công nghệ và năng lực nội sinh. Đây sẽ là nền tảng để Việt Nam tạo bước chuyển về chất trong mô hình phát triển, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.

