Tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng trên 10%/năm
Sáng 2/11, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư.
.jpg)
Có nên thu hẹp chức năng của Luật Đầu tư?
Thảo luận về dự thảo Luật, các ĐBQH cơ bản tán thành sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nhằm tháo gỡ khó khăn, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển. Tuy nhiên, ĐBQH Hoàng Minh Hiếu (Nghệ An) cho biết, tính từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV đến nay, Luật Đầu tư đã được sửa đổi 16 lần, bình quân gần 3 lần mỗi năm.

Từ thực tế này, đại biểu đề nghị Chính phủ cân nhắc kỹ việc có nên tiếp tục duy trì mô hình Luật Đầu tư vừa điều chỉnh quyền đầu tư kinh doanh, vừa thực hiện chức năng của một đạo luật cấp phép dự án đầu tư hay không.
Phân tích nguyên nhân khiến Luật Đầu tư phải sửa đổi nhiều lần, đại biểu Hoàng Minh Hiếu cho rằng, thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư hiện nay không chỉ xem xét điều kiện của nhà đầu tư mà còn bao gồm địa điểm, đất đai, quy hoạch, quy mô, tiến độ, môi trường và nhiều yếu tố khác. Sau khi được chấp thuận chủ trương đầu tư, nhà đầu tư vẫn phải tiếp tục thực hiện các thủ tục tương ứng theo pháp luật về đất đai, môi trường, xây dựng và các lĩnh vực chuyên ngành. Cách quy định này khiến phạm vi điều chỉnh giữa Luật Đầu tư và các luật khác khó phân định, dẫn đến nhu cầu sửa đổi Luật Đầu tư mỗi khi luật chuyên ngành thay đổi.

Để khắc phục tình trạng này, về lâu dài đại biểu đề nghị thu hẹp chức năng của Luật Đầu tư, tập trung vào điều chỉnh quyền tự do đầu tư kinh doanh; bảo đảm, khuyến khích đầu tư và những trường hợp thật sự cần Nhà nước kiểm soát mà luật chuyên ngành không thể xử lý đầy đủ. Các vấn đề còn lại nên giao cho luật chuyên ngành quy định, bảo đảm nguyên tắc một rủi ro do một cơ quan chịu trách nhiệm chính.
Theo đại biểu, hướng tiếp cận này cũng phù hợp với xu hướng hoàn thiện pháp luật đầu tư trên thế giới. Cụ thể, Báo cáo nghiên cứu của OECD về môi trường đầu tư tại các nước ASEAN thực hiện tháng 9 vừa qua cho thấy, nhiều quốc gia, trong đó có các thành viên OECD, không có đạo luật đầu tư riêng. Việc có hay không một luật đầu tư riêng cũng không phải điều kiện tiên quyết để hình thành khuôn khổ chính sách đầu tư tốt.

Liên quan đến Cổng một cửa đầu tư quốc gia quy định tại Điều 46, đại biểu Hoàng Minh Hiếu chỉ ra sự chưa thống nhất giữa dự thảo Luật và Luật Dữ liệu. Cụ thể, khoản 5 Điều 46 dự thảo quy định, tổ chức, cá nhân khai thác thông tin tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đầu tư phải nộp phí, trong khi Điều 38 Luật Dữ liệu quy định tổ chức, cá nhân khai thác dữ liệu của chính mình trong cơ sở dữ liệu do cơ quan nhà nước quản lý thì không phải nộp phí. Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung rõ trường hợp nhà đầu tư khai thác dữ liệu của chính mình không phải nộp phí, bảo đảm thống nhất trong hệ thống pháp luật.
Cũng quan tâm đến quy định này, ĐBQH Sùng A Lềnh (Lào Cai) cho rằng, việc xây dựng Cổng một cửa đầu tư quốc gia để thống nhất, kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan là cần thiết, góp phần giảm giấy tờ và chi phí thủ tục. Tuy nhiên, dự thảo chưa làm rõ phạm vi thông tin được xác định là thông tin gốc và cách xử lý khi dữ liệu trên hệ thống không thống nhất với quyết định, giấy chứng nhận hoặc hồ sơ pháp lý do cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Đại biểu đề nghị làm rõ trách nhiệm kiểm tra, xác thực, điều chỉnh dữ liệu và phạm vi thu phí khai thác thông tin; xác định cụ thể giá trị pháp lý, phạm vi sử dụng và nguyên tắc xử lý sai lệch dữ liệu. Đồng thời, cần phân định trách nhiệm cập nhật, kiểm tra, xác thực, đính chính thông tin của từng chủ thể, bảo đảm việc thu phí phù hợp với pháp luật về phí, lệ phí và không phát sinh chi phí không cần thiết.
Về mở rộng tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài tại khoản 3 Điều 1 (bổ sung khoản 3a Điều 8), ĐBQH Dương Khắc Mai (Lâm Đồng) nhận thấy, dự thảo Luật sau khi tiếp thu ý kiến thảo luận tại tổ đã phân định thẩm quyền theo hướng linh hoạt hơn. Tuy nhiên, việc giao văn bản dưới luật xem xét, quyết định nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường trong các ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cần được đánh giá kỹ hơn.

Đại biểu đề nghị bổ sung yêu cầu đánh giá tác động đối với từng nhóm ngành nhạy cảm, đồng thời tham vấn các cơ quan liên quan nhằm tạo thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài nhưng không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích quốc gia và lợi ích của nhà đầu tư trong nước.
Ưu đãi đầu tư phải gắn với cam kết và kết quả thực tế
Giải trình về các vấn đề được ĐBQH quan tâm, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, những lần sửa đổi Luật trước đây chủ yếu tập trung loại bỏ điều kiện, thủ tục kinh doanh. Qua đó, đã cắt giảm 62 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và đơn giản hóa quy định đối với 40 ngành, nghề khác.
Lần sửa đổi này hướng đến mục tiêu xuyên suốt là tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư, thu hút nguồn lực, khơi thông dòng vốn, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế trên 10%/năm.

Theo Bộ trưởng, nhu cầu vốn cho giai đoạn phát triển mới rất lớn. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong giai đoạn tới dự kiến gấp 2,21 lần giai đoạn 2021-2025. Trong đó, giải ngân vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cần đạt 30-40 tỷ USD mỗi năm, cao gấp 6-7 lần so với giai đoạn trước.
Việc sửa đổi Luật còn nhằm kịp thời thể chế hóa các nghị quyết của Đảng, cụ thể là Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị về đổi mới thu hút đầu tư nước ngoài, Nghị quyết số 21 về sửa đổi Luật Đất đai và Nghị quyết số 27 về quy hoạch không gian và tái cấu trúc không gian vùng. Đây là những nghị quyết rất quan trọng trong điều kiện mới, Bộ trưởng nhấn mạnh.
Một lý do khác là sức ép cạnh tranh thu hút FDI ngày càng gay gắt. Các quốc gia trong khu vực đang triển khai nhiều chính sách ưu đãi mạnh mẽ để thu hút đầu tư vào các ngành công nghệ cao như bán dẫn, điện tử và chuyển đổi số.

Trước yêu cầu nâng cao sức cạnh tranh và chất lượng dòng vốn FDI, dự thảo Luật Đầu tư sửa đổi đề xuất các chính sách ưu đãi đặc biệt, tập trung vào những lĩnh vực ưu tiên như đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, chuyển đổi số; đồng thời thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Về cơ chế quản lý ưu đãi đầu tư, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh, việc hỗ trợ, ưu đãi phải gắn với kết quả đầu tư thực tế, có cơ chế kiểm tra, giám sát và lượng hóa cụ thể. Trường hợp nhà đầu tư không thực hiện đúng cam kết sau khi được hưởng ưu đãi, cần có chế tài thu hồi ưu đãi, qua đó hạn chế nguy cơ phát sinh khiếu kiện, tranh chấp đầu tư quốc tế phức tạp.
Đồng tình với ý kiến của nhiều đại biểu Quốc hội, Bộ trưởng cho rằng cần đánh giá tổng thể, phân định rõ giữa điều kiện đầu tư kinh doanh và điều kiện tiếp cận thị trường của doanh nghiệp. Việc làm rõ hai phạm vi này sẽ góp phần bảo đảm tính đồng bộ giữa Luật Đầu tư với các luật chuyên ngành, tạo sự ổn định lâu dài cho hệ thống pháp luật về đầu tư.

