Thúc đẩy tăng trưởng xanh để hiện thực hóa khát vọng 2045
Tại Diễn đàn “Tận dụng nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng xanh” do Báo Đại biểu Nhân dân tổ chức chiều 23/4, các đại biểu khẳng định: tăng trưởng xanh không chỉ là vấn đề môi trường mà chính là công cụ để xác lập mô hình tăng trưởng mới, giúp Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững, trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045.
Đề cập nhiều, thực hiện chưa được bao nhiêu
Theo PGS. TS. Bùi Quang Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, Việt Nam đã đặt ra những mục tiêu phát triển rất lớn: trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và là nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Để đạt được tốc độ tăng trưởng 2 con số một cách nhanh và bền vững, tăng trưởng xanh là con đường duy nhất có thể giải quyết đồng thời hai mục tiêu này.

Ông Tuấn cho rằng, thực chất, tăng trưởng xanh không chỉ là “vấn đề môi trường" mà chính là công cụ để xác lập mô hình tăng trưởng mới, thay thế cho mô hình cũ vốn dựa vào năng lượng hóa thạch, nhân công giá rẻ, tài nguyên thiên nhiên đang dần cạn kiệt. Muốn xác lập mô hình tăng trưởng mới, cần dựa vào nguồn vốn; nguồn lực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, cùng nguồn nhân lực chất lượng cao.
Trên thực tế, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về tăng trưởng xanh. Trong đó, có Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050; Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030; Đề án phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam… Đáng chú ý, tại Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc năm 2021 (COP26), Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào 2050. “Đây là mục tiêu rất hiện đại, tầm nhìn không thua kém các nước phát triển”, ông Tuấn nhận xét.
Tuy vậy, “chúng ta nói nhiều đến tăng trưởng xanh nhưng thực hiện chưa được bao nhiêu”, ông Tuấn nhận định. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Trước hết, do nhận thức chưa thực sự đầy đủ của cả phía lãnh đạo lẫn bộ phận thực thi. “Chúng ta đặt vấn đề tăng trưởng kinh tế rất quyết liệt. Muốn tăng trưởng bền vững thì tăng trưởng xanh không kém phần quan trọng nhưng lại đang có sự không cân đối giữa tăng trưởng xanh với tăng trưởng kinh tế. Tư duy, nhận thức về tăng trưởng xanh chưa thật đầy đủ”.
Cùng với đó, mặc dù đã có hệ thống văn bản quy phạm pháp luật song đang gặp vấn đề về năng lực thực hiện cũng như công tác giám sát, đánh giá. Điều kiện thực hiện còn hạn chế, cả về kinh phí, huy động nguồn lực từ bên ngoài, nguồn nhân lực. Chúng ta cũng chưa phát huy được nguồn lực theo hướng kết nối với nhau, dẫn đến kết quả thực hiện chưa như mong đợi.
Một lý do quan trọng khác là công tác truyền thông nâng cao nhận thức về tăng trưởng xanh còn hạn chế, cần đẩy mạnh hơn nữa. Cần truyền thông theo hướng muốn tăng trưởng hai con số phải quyết liệt thúc đẩy tăng trưởng xanh, để từ đó tạo nền tảng nhận thức đầy đủ cho toàn xã hội.
Chia sẻ ý kiến trên, TS. Nguyễn Trí Hiếu, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển thị trường tài chính và bất động sản toàn cầu, bổ sung, nguồn lực tài chính cho tăng trưởng xanh còn hạn chế. Mặc dù tín dụng xanh của các ngân hàng ở Việt Nam phát triển khá nhanh trong 10 năm qua song quy mô còn rất thấp. Tính đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng xanh mới đạt khoảng 4,1% tổng dư nợ tín dụng, tương ứng khoảng 780.000 - 850.000 tỷ đồng, với 58 ngân hàng và các tổ chức tín dụng tham gia. Đối với trái phiếu xanh, tính đến tháng 4/2025, tổng dư nợ xấp xỉ 30.000 tỷ VNĐ (1,2 tỷ USD), chiếm khoảng 2% thị trường trái phiếu doanh nghiệp, là con số rất khiêm tốn. Ông Hiếu cảnh báo, việc ưu tiên mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% sẽ tạo áp lực lớn lên nguồn vốn xanh, bởi không giống như các dự án sản xuất, kinh doanh thương mại thông thường tạo ra lợi nhuận cao tức thì, các dự án xanh thường mang tính chất về lâu dài, kết quả đến sau 10 - 20 năm, thậm chí lâu hơn.
Tương tự, nguồn nhân lực xanh hiện cũng đang rất “khát”. TS. Vũ Văn Doanh, Phó Trưởng khoa Môi trường, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội nêu thực trạng, năm 2025, cả nước có 53 triệu lao động, trong đó 28,3% qua đào tạo có bằng, chứng chỉ. Riêng về nguồn nhân lực xanh, hiện chỉ chiếm 3,6% trong tổng số việc làm ở 39 ngành nghề. Dự kiến tiềm năng việc làm xanh sẽ nâng lên 41% ở 88 ngành nghề, đòi hỏi cấp thiết phải đào tạo kỹ năng xanh và nâng cao năng lực lao động.

Diễn đàn “Tận dụng nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng xanh” không chỉ là nơi trao đổi học thuật, mà quan trọng hơn là không gian chính sách, nơi kết nối giữa tư duy lập pháp, thực tiễn quản lý và nhu cầu từ đời sống, để từ đó hình thành những kiến nghị có giá trị, có thể “đi vào” quá trình hoạch định và hoàn thiện chính sách.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh: “Thể chế phải đi trước một bước, phải tạo không gian phát triển, biến tiềm năng thành nguồn lực, biến nguồn lực thành động lực”. Tinh thần đó cũng chính là kỳ vọng đặt ra đối với Diễn đàn.
PHẠM THỊ THANH HUYỀN
“Số” và “xanh” cần song hành
Tại Diễn đàn, các đại biểu thống nhất cho rằng, muốn đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số theo hướng bền vững, cần quyết liệt thúc đẩy tăng trưởng xanh. “Tăng trưởng xanh ban đầu có thể là một loại chi phí, song về lâu dài chính là cơ hội giúp chúng ta tạo ra động lực tăng trưởng mới, hiện thực hóa khát vọng tăng trưởng cao, giúp quốc gia xác lập mô hình tăng trưởng mới. Với doanh nghiệp, đó là cơ hội để nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực chống chịu thông qua ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt, ai hành động nhanh hơn sẽ là người chiến thắng và dẫn đầu”, PGS. TS. Bùi Quang Tuấn nhấn mạnh.
Trong bối cảnh thế giới biến động khó lường, xung đột địa chính trị ở Trung Đông gây đứt gãy nguồn cung năng lượng đặt ra bài toán có nên tạm hoãn yếu tố “xanh” trong trước mắt, quay trở về với nguồn năng lượng truyền thống để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia? PGS. TS. Bùi Quang Tuấn khẳng định, việc các nước quay trở lại nguồn năng lượng truyền thống chỉ là xu thế ngắn hạn. Về lâu dài vẫn phải là tăng trưởng xanh để xác lập mô hình tăng trưởng mới, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững. “Chúng ta cần tranh thủ lúc này chớp cơ hội để đẩy nhanh quá trình xanh hóa, đây chính là cơ hội vàng giúp chúng ta đuổi kịp các nước”, ông nói.
Chia sẻ ý kiến trên, TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Chiến lược thương hiệu và cạnh tranh (BCSI) cho rằng, muốn tăng trưởng 2 con số phải quyết liệt tăng trưởng xanh. Bối cảnh ở Trung Đông chính là cơ hội, sức ép để tái cơ cấu ngành năng lượng theo hướng xanh. Nhìn dài hạn, sân chơi của thị trường mang tính quyết định: thị trường đòi hỏi “xanh”, người tiêu dùng đòi hỏi “xanh”. “Chúng ta cần nhìn tăng trưởng xanh đừng chỉ như tuân thủ để bảo đảm chỉ tiêu này, chỉ tiêu kia. Mặc dù điều này rất quan trọng, nhưng xanh thực sự phải là đột phá, là cải tổ cách thức sống, cách thức phát triển, tức không chỉ là tuân thủ mà phải là tạo giá trị”, ông nói.
TS. Nguyễn Trí Hiếu bổ sung, để tạo nguồn vốn cho tăng trưởng xanh, Ngân hàng Nhà nước cần khuyến khích các ngân hàng dành tín dụng cho các dự án xanh, đi kèm cơ chế thưởng - phạt rõ ràng. Chẳng hạn, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu trong 5 năm tới, các ngân hàng phải dành tối thiểu 5% dư nợ tín dụng xanh. Nếu ngân hàng thực hiện đúng sẽ có cơ chế tái cấp vốn hoặc cơ chế về nới room tín dụng…; ngược lại sẽ có biện pháp xử lý. Cần nhìn đây là lợi ích của cả nền kinh tế, do đó các ngân hàng hãy tăng cường tín dụng xanh, không đợi Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo, ông Hiếu kêu gọi.
Một vấn đề được các đại biểu quan tâm là thúc đẩy chuyển đổi số để góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, song “số” chưa chắc đã “xanh” bởi chuyển đổi số cần rất nhiều năng lượng. Theo TS. Nguyễn Trung Thắng, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược chính sách nông nghiệp và môi trường, giữa “số” và “xanh” phải song hành, bởi vì lợi ích mà “số” mang lại cho chuyển đổi xanh là rất rõ ràng. Trong chính sách, chiến lược của Đảng cũng nhấn mạnh: chuyển đổi kép (chuyển đổi số, chuyển đổi xanh) chính là động lực mới cho tăng trưởng bền vững. “Các tập đoàn lớn của Mỹ khi xây dựng trung tâm dữ liệu đều gắn với một dự án năng lượng tái tạo, dự án hydrogen xanh… Chúng ta phải số hóa chuyển đổi xanh, đồng thời phải xanh hóa chuyển đổi số”, ông Thắng phát biểu.
PGS. TS. BÙI QUANG TUẤN, Phó Chủ tịch Hội khoa học kinh tế Việt Nam
Không có hệ sinh thái đồng bộ, không có chuyển đổi xanh

Mô hình tăng trưởng truyền thống hiện nay bắt đầu bộc lộ rõ những giới hạn như phụ thuộc nhiều vào năng lượng hóa thạch, khai thác tài nguyên và lao động chi phí thấp. Bên cạnh đó, bối cảnh quốc tế đang thay đổi rất nhanh. Các nhà nhập khẩu yêu cầu ngày càng cao về tiêu chí bền vững, đặc biệt là các chỉ số phát thải carbon, buộc doanh nghiệp phải chuyển đổi xanh.
Trong bối cảnh như vậy, ở cấp độ quốc gia, tăng trưởng xanh là con đường để xác lập mô hình tăng trưởng mới, hướng tới phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh toàn cầu mới. Đối với doanh nghiệp, đây là chiến lược sống còn, giúp giữ đơn hàng, tiếp cận nguồn vốn và xây dựng thương hiệu.
Tăng trưởng xanh về bản chất là quá trình tái cấu trúc cách thức tạo ra giá trị của nền kinh tế, chuyển từ mô hình dựa vào khai thác tài nguyên sang mô hình dựa trên hiệu quả, công nghệ và đổi mới ở 4 kênh: đầu tư vào năng lượng và hạ tầng, nâng cấp công nghiệp, mở rộng tài chính xanh và tăng khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Để thúc đẩy tăng trưởng xanh toàn diện, cần hình thành hệ sinh thái đồng bộ với sự tham gia của nhiều chủ thể. Ở trụ cột Nhà nước, thể chế giữ vai trò then chốt trong việc thiết lập khuôn khổ để nền kinh tế vận hành theo hướng xanh hóa, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn xanh và đẩy mạnh đổi mới công nghệ. Thị trường phải phát huy vai trò trong phân bổ nguồn lực, đặc biệt là định giá carbon. Doanh nghiệp là trung tâm của quá trình đổi mới, cần ưu tiên chuyển đổi trong các lĩnh vực then chốt như năng lượng, công nghiệp, logistics và nông nghiệp. Người dân và cộng đồng, thông qua việc hình thành lối sống xanh, sẽ tạo áp lực và động lực để doanh nghiệp đẩy nhanh quá trình xanh hóa. Không có hệ sinh thái đồng bộ này thì không có chuyển đổi xanh.
Ông NGUYỄN TRUNG THẮNG, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, chính sách nông nghiệp và môi trường
Sớm hoàn thiện hướng dẫn về mua sắm công xanh, tín dụng xanh

Thời gian qua, Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi xanh, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Cụ thể, các hoạt động bảo vệ môi trường được hỗ trợ về đất đai, hạ tầng, vốn và thuế. Chính sách cũng khuyến khích các tổ chức tín dụng ưu tiên tài trợ, cho vay ưu đãi với các dự án thuộc danh mục phân loại xanh. Trong lĩnh vực mua sắm công, các dự án đầu tư và nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước được ưu tiên sử dụng sản phẩm, dịch vụ đạt Nhãn sinh thái Việt Nam.
Tuy vậy, hệ thống văn bản hướng dẫn còn thiếu và chưa đồng bộ giữa các lĩnh vực như mua sắm công xanh, tín dụng xanh, trái phiếu xanh và cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân. Thủ tục hành chính và điều kiện tiếp cận các nguồn tài chính xanh còn phức tạp, gây khó khăn cho doanh nghiệp. Cơ sở dữ liệu và thông tin về các dự án xanh chưa đầy đủ; năng lực xác nhận, cũng như cơ chế giám sát, đánh giá dự án còn hạn chế, tiềm ẩn rủi ro “giả xanh”.
Bên cạnh đó, nguồn lực tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường và dự án xanh cũng chưa đáp ứng yêu cầu. Đáng chú ý, năng lực hấp thụ của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn yếu do thiếu nhân lực chuyên môn về ESG, MRV (quy trình kỹ thuật dùng để giám sát và chứng nhận lượng khí thải nhà kính - PV); hạn chế về quy mô vốn, năng lực quản trị và mức độ hiểu biết về các tiêu chí phân loại xanh.
Thời gian tới, cần tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế, chính sách, trong đó sớm ban hành và hoàn thiện văn bản hướng dẫn liên quan đến mua sắm công xanh, tín dụng xanh và các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân. Cùng với đó, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện tiếp cận các ưu đãi để doanh nghiệp dễ dàng tham gia quá trình chuyển đổi xanh. Việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin về các dự án xanh cũng rất cấp thiết nhằm nâng cao tính minh bạch và khả năng kết nối nguồn lực. Đồng thời, cần nâng cao năng lực cho các bên liên quan như: doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, tổ chức xác nhận dự án xanh.
TS. VŨ VĂN DOANH, Phó Trưởng khoa Môi trường, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Xu hướng việc làm xanh đang tăng nhanh

Theo định nghĩa của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), “việc làm xanh” là những công việc bền vững trong mọi lĩnh vực như nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ hay hành chính, góp phần bảo tồn, phục hồi và nâng cao chất lượng môi trường.
Dữ liệu của Ngân hàng Thế giới cho thấy, hiện tỷ lệ việc làm xanh tại Việt Nam mới chiếm khoảng 3,6% tổng số việc làm trong 39 ngành nghề, nhưng dự báo có thể tăng lên 41% trong 88 ngành nghề trong tương lai. Thống kê của ManpowerGroup Việt Nam giai đoạn 2023 - 2024 cho thấy xu hướng việc làm xanh đang tăng nhanh, tập trung nhiều nhất ở lĩnh vực sản xuất (33%). Tuy vậy, Việt Nam hiện gặp nhiều thách thức trong việc đào tạo kỹ năng xanh. Hiện thiếu hơn 60% giáo trình về phát triển bền vững và năng lượng xanh. Sinh viên ra trường dư về số lượng nhưng thiếu kỹ năng xanh.
Để khắc phục, cần triển khai hiệu quả Chương trình hỗ trợ phát triển thị trường lao động đến năm 2030 và định hướng tới 2050. Đồng thời, tiếp tục cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển nguồn nhân lực. Cùng với đó, gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo, nghiên cứu và nhu cầu doanh nghiệp thông qua cơ chế “đặt hàng” đào tạo, tăng cường hợp tác viện trường - doanh nghiệp và xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, qua đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ quá trình chuyển đổi xanh; nâng cao tỷ lệ cán bộ được đào tạo, bồi dưỡng và thường xuyên cập nhật kiến thức, kỹ năng xanh.
TS. NGUYỄN TRÍ HIẾU, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn cầu:
Giao chỉ tiêu cho ngân hàng để nâng tỷ trọng tín dụng xanh

Hệ sinh thái tài chính xanh hiện bao gồm tín dụng xanh, trái phiếu xanh, đầu tư theo tiêu chuẩn ESG và các quỹ phát triển bền vững; trong đó, tín dụng xanh là kênh chủ lực.
Dư nợ tín dụng xanh tại Việt Nam cuối năm 2025 đạt 780.000 - 850.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 4,1% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Dù quy mô còn khiêm tốn, tốc độ tăng trưởng bình quân những năm gần đây đạt 20 - 25%/năm, cao hơn đáng kể so với tín dụng chung của hệ thống. Số lượng tổ chức tín dụng tham gia cũng tăng mạnh, từ 15 đơn vị năm 2017 lên 58 đơn vị vào cuối năm 2025. Về cơ cấu, tín dụng xanh tập trung chủ yếu vào nông nghiệp, chiếm 30 - 33% và năng lượng tái tạo, năng lượng sạch với khoảng 40%.
Hiện nay, tín dụng xanh đối mặt không ít thách thức. Áp lực thanh khoản và quy định về tỷ lệ cho vay so với huy động khiến các ngân hàng phải thận trọng trong cấp tín dụng. Trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế tăng cao, lãi suất huy động có xu hướng nhích lên, kéo theo chi phí vốn tăng, khiến dư địa dành cho tín dụng xanh bị thu hẹp. Bên cạnh đó, đặc thù của các dự án xanh là thời gian hoàn vốn dài, lợi nhuận không cao trong ngắn hạn, trong khi lại phải đáp ứng nhiều tiêu chuẩn mới như ESG hay các chuẩn mực quốc tế khắt khe, tạo thêm áp lực cho cả ngân hàng và doanh nghiệp. Ở thời điểm này, Ngân hàng Nhà nước cần thúc đẩy tín dụng xanh mạnh mẽ hơn, có thể xem xét giao chỉ tiêu để mỗi ngân hàng dành tối thiểu 5% tổng dư nợ cho lĩnh vực này.
Ông LÊ NGUYỄN TRƯỜNG GIANG, Viện trưởng Viện chiến lược Chuyển đổi số
Chuyển đổi số để tối ưu hiệu quả sử dụng năng lượng

Chuyển đổi số là một cuộc cách mạng về nền tảng tư duy hướng tới một hình thái tổ chức xã hội mới, trong đó công nghệ là động lực, xã hội số là nền tảng dẫn động, và được dẫn đạo bởi sự chuyển đổi của nền tảng từ vốn tài chính (capital) sang vốn dữ liệu.
Tiến trình chuyển đổi số sẽ tạo ra những thay đổi căn bản trong hoạt động của doanh nghiệp. Theo đó, doanh nghiệp chuyển đổi cách thức tổ chức thông qua việc ứng dụng hiệu quả công nghệ, phương thức quản trị và các nguồn lực mới nhằm nâng cao hiệu quả vận hành. Đồng thời, chuyển đổi số thúc đẩy sự thay đổi toàn diện về tư duy và phương thức hoạt động, từ mô hình sản xuất truyền thống sang kỷ nguyên số. Cách thức vận hành cũng được chuyển dịch từ quản trị công việc sang quản trị dòng thông tin, trong khi việc đo lường hiệu quả không còn dựa trên các chỉ số rời rạc mà hướng tới đánh giá tổng thể, dựa trên sự phối hợp đồng bộ của toàn bộ hoạt động trong doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp dần chuyển từ tĩnh sang động, dựa trên năng lực đổi mới sáng tạo liên tục, nhanh và hiệu quả. Về dài hạn, chuyển đổi số còn làm thay đổi bản chất hoạt động kinh doanh, từ nền kinh tế dựa trên sự khan hiếm sang mô hình dựa trên khả năng khai thác và lan tỏa nguồn lực trong kỷ nguyên số.
Trên nền tảng đó, chuyển đổi số góp phần tối ưu hóa hiệu quả sử dụng năng lượng trong doanh nghiệp thông qua việc thay đổi tư duy, định hình mô hình tổ chức mới, vận hành dựa trên công nghệ, lấy dữ liệu làm nền tảng và ra quyết định dựa trên dữ liệu, qua đó từng bước hình thành phương thức sản xuất số.

