Thu hút FDI: Từ lựa chọn dòng vốn đến tạo sức lan tỏa Bài 2: Tạo hệ sinh thái để đón dòng vốn chất lượng cao
Muốn thu hút dự án công nghệ cao không thể chỉ phụ thuộc vào ưu đãi đầu tư mà còn đòi hỏi thể chế thuận lợi, hạ tầng chiến lược cùng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghệ; đây cũng là điều kiện để chuyển từ thu hút từng dự án riêng lẻ sang phát triển hệ sinh thái đầu tư, đáp ứng yêu cầu của dòng vốn FDI chất lượng cao.
Thể chế thuận lợi phải đi cùng hạ tầng chiến lược
Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính Bùi Thu Thủy cho biết, một trong những thay đổi quan trọng về tư duy tại Nghị quyết số: 10-NQ/TW là chuyển từ thu hút đầu tư nước ngoài sang phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; theo đó, FDI không chỉ bổ sung nguồn vốn mà còn phải góp phần chuyển giao công nghệ, phát triển các ngành kinh tế và nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế.

Định hướng này đòi hỏi đổi mới phương thức quản lý ở cả Trung ương và địa phương. Thay vì xem xét từng dự án riêng lẻ, cần đặt FDI trong mối liên kết với thị trường vốn, các kênh đầu tư gián tiếp, khu vực kinh tế trong nước và những không gian phát triển mới như khu thương mại tự do, đặc khu kinh tế; đồng thời, chuyển từ quản lý hành chính sang kiến tạo, đồng hành cùng nhà đầu tư trong suốt vòng đời dự án.
Theo bà Bùi Thu Thủy, để thu hút FDI chất lượng cao và phát huy hiệu quả lan tỏa, Việt Nam phải chuẩn bị đồng bộ các điều kiện về thể chế, hạ tầng chiến lược, hệ sinh thái ngành, nguồn nhân lực chất lượng cao và năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp trong nước.
Đặc biệt, các nhà đầu tư chiến lược, sở hữu công nghệ tiên tiến thường có nhiều lựa chọn về địa điểm đầu tư. Vì vậy, bên cạnh hệ thống pháp luật đồng bộ, môi trường đầu tư phải bảo đảm tính minh bạch, thông thoáng, thủ tục nhanh gọn và năng lực quản trị hiệu quả. Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư dự kiến mở rộng phạm vi áp dụng cơ chế luồng xanh, thủ tục đầu tư đặc biệt đối với các dự án công nghệ chiến lược, kể cả dự án ngoài khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao.
Tuy nhiên, cải cách thủ tục mới chỉ đáp ứng một phần yêu cầu của nhà đầu tư. Đối với các ngành công nghệ cao, khả năng vận hành ổn định còn phụ thuộc vào chất lượng hạ tầng và năng lực cung ứng các yếu tố đầu vào. Do đó, cần phát triển đồng bộ hạ tầng giao thông, logistics, cảng biển, sân bay, hạ tầng số, mạng 5G, cơ sở dữ liệu và nguồn năng lượng sạch, ổn định. Trong đó, bảo đảm cung ứng điện liên tục có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các dự án sử dụng công nghệ hiện đại.
Nghị quyết số: 280/NQ-CP về Kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số: 10-NQ/TW cũng đã xác định nhiệm vụ nâng cấp hạ tầng phục vụ thu hút đầu tư chiến lược; chuẩn bị quỹ đất và hạ tầng cho các dự án bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), trung tâm dữ liệu, trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D); đồng thời, thúc đẩy chuyển đổi các khu công nghiệp, khu kinh tế theo hướng sinh thái, thông minh, chuyên ngành, tích hợp hạ tầng sản xuất với dịch vụ, nhà ở, y tế, giáo dục và logistics.
Về phía các địa phương, Nghị quyết số: 280/NQ-CP yêu cầu phải xây dựng các kế hoạch xúc tiến đầu tư chuyên biệt, tập trung vào nhà đầu tư có công nghệ nền tảng, công nghệ lõi, R&D, trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm dữ liệu, trụ sở khu vực và các dự án có khả năng kết nối Việt Nam với mạng sản xuất, dịch vụ và thị trường tài chính quốc tế. Câu hỏi với công tác xúc tiến không còn là “nhà đầu tư nào muốn vào Việt Nam?”, mà là Việt Nam cần những nhà đầu tư nào để bổ sung đúng năng lực nền kinh tế đang thiếu, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài Bùi Thu Thủy nhấn mạnh.
Nhân lực phải theo kịp thay đổi công nghệ
Để đón đầu các dự án công nghệ cao, bà Thủy cho rằng phải chuẩn bị sẵn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong bán dẫn, AI, tự động hóa. Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư đã bổ sung cơ chế vượt trội để khuyến khích các tập đoàn FDI chiến lược đào tạo lao động Việt Nam, cùng cơ chế đột phá thúc đẩy doanh nghiệp FDI thực hiện R&D, thành lập trung tâm R&D, tuyển chọn và đào tạo người Việt Nam, đưa Việt Nam thành mắt xích sáng tạo thay vì chỉ là công đoạn lắp ráp, gia công đơn giản. Nghị quyết số: 280/NQ-CP cũng yêu cầu gắn đào tạo với nhu cầu của doanh nghiệp FDI, nâng tỷ lệ chuyên gia, kỹ sư, cán bộ quản lý người Việt trong khu vực này.
Tuy vậy, đây vẫn là thách thức không nhỏ. Với kinh nghiệm khoảng 20 năm tuyển dụng cho các doanh nghiệp FDI, Giám đốc tuyển dụng nhân sự cấp cao toàn quốc và phát triển kinh doanh tại Hà Nội của Talentnet Nguyễn Thu Hà cho biết, nhân sự mới ra trường vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng yêu cầu công việc, buộc nhiều doanh nghiệp phải tổ chức đào tạo lại. Đối với nhóm kỹ sư, chất lượng chuyên môn dù được cải thiện nhưng ngoại ngữ vẫn là điểm hạn chế so với nhân sự tại Malaysia, Singapore, Thái Lan. Đây là rào cản không nhỏ khi người lao động cần giao tiếp, tiếp nhận công nghệ và học hỏi kinh nghiệm từ các doanh nghiệp FDI.
Trong bối cảnh rất khó dự báo chính xác công nghệ sẽ phát triển theo hướng nào và nhu cầu nhân lực sẽ thay đổi ra sao, bà Hà cho rằng, người lao động cần được bồi dưỡng kỹ năng thường xuyên để thích ứng. Hệ thống giáo dục cần gắn chặt hơn với doanh nghiệp để đầu ra của các trường phù hợp yêu cầu thực tế. Cùng với đó, việc nâng cao trình độ tiếng Anh sẽ giúp người lao động học hỏi nhanh, hiểu đối tác và làm việc hiệu quả. Bà cũng nhấn mạnh vai trò của việc hỗ trợ chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI sang doanh nghiệp Việt Nam. Sự phối hợp giữa Chính phủ, doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước sẽ tạo điều kiện để lao động Việt Nam nâng cao kỹ năng, tiếp thu công nghệ và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.
Thách thức không chỉ là đào tạo mà còn là giữ chân người lao động. Tổng giám đốc SGS Việt Nam Jackson Woo cho biết, nhiều lần doanh nghiệp phải đào tạo lại những nội dung đã tập huấn nhiều năm vì người được đào tạo đã chuyển sang công ty hoặc ngành khác. Khi FDI công nghệ cao vào ngày càng nhiều, nhiều sinh viên tốt nghiệp lại có xu hướng tìm cơ hội tại các tập đoàn nước ngoài thay vì doanh nghiệp nội địa khiến doanh nghiệp trong nước khó thu hút và giữ chân nhân lực; do vậy, theo ông Jackson Woo, Chính phủ và các cơ sở giáo dục cần phối hợp chặt chẽ hơn để xác định định hướng đào tạo và có các cơ chế hỗ trợ phù hợp.

