Chính trị

Thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc sơ kết thực hiện Nghị quyết 57 - NQ/TW của Bộ Chính trị: Từ chuyển đổi số đến chuyển đổi năng lực quốc gia

Bùi Ngọc An 02/07/2026 19:25

Sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là thời điểm xác lập một yêu cầu mới trong thực hiện: phải thực chất, hiệu quả hơn, đo được bằng sản phẩm cụ thể, dữ liệu kiểm chứng và giá trị thực tế. Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại hội nghị là một thông điệp sâu sắc về đổi mới phương thức phát triển quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Không thể triển khai bằng tư duy hành chính cũ

Điều cảm nhận rõ nhất từ bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là tinh thần quyết liệt chuyển từ “triển khai” sang “thực thi”, từ “có việc làm” sang “có kết quả”, từ “hoàn thành trên giấy” sang “vận hành trong đời sống”. Đây là một sự thay đổi rất quan trọng, bởi lâu nay, trong không ít lĩnh vực, chúng ta vẫn quen đánh giá công việc bằng số lượng văn bản đã ban hành, hội nghị đã tổ chức, kế hoạch đã xây dựng, báo cáo đã hoàn thành. Những việc ấy cần thiết, nhưng chưa đủ. Với Nghị quyết 57, nếu chỉ dừng lại ở thủ tục hành chính, nghị quyết sẽ khó tạo ra đột phá.

Nghị quyết 57 đặt ra một yêu cầu khác: mỗi nhiệm vụ phải có sản phẩm cụ thể; mỗi chương trình phải giải quyết được một bài toán lớn; mỗi cấp, mỗi ngành phải trả lời được mình đã làm chủ công nghệ nào, kết nối được dữ liệu nào, cắt giảm được thủ tục nào, tiết kiệm được bao nhiêu chi phí cho xã hội, đóng góp được gì cho tăng trưởng, nâng cao được năng lực gì cho đất nước. Đó là cách đánh giá mới, rất thực tế, rất hiện đại và cũng rất nghiêm khắc. Bởi khi mọi việc được đo bằng kết quả, không còn nhiều khoảng trống cho hình thức, né tránh hay chung chung.

1(3).jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm rưỡi triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Ảnh: Phạm Thắng

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vốn là những khái niệm dễ tạo cảm giác lớn lao, nhưng nếu không được cụ thể hóa thì cũng dễ trở thành khẩu hiệu. Một phần mềm chỉ có ý nghĩa khi vận hành tốt. Một cơ sở dữ liệu chỉ có giá trị khi đúng, đủ, sạch, sống và liên thông. Một sáng kiến chỉ thực sự là đổi mới sáng tạo khi tạo ra giá trị mới cho xã hội. Một công nghệ chỉ thực sự được làm chủ khi có thể đi vào sản xuất, quản trị, dịch vụ công, đời sống người dân và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Chính vì vậy, thông điệp “thực chất và hiệu quả hơn” là một chuẩn mực văn hóa trong quản trị phát triển. Văn hóa ấy đòi hỏi sự trung thực với kết quả, tôn trọng dữ liệu, coi trọng hiệu quả cuối cùng và đặt lợi ích của người dân, doanh nghiệp ở trung tâm. Chuyển đổi số sẽ không có ý nghĩa nếu người dân vẫn phải khai đi khai lại một loại giấy tờ; doanh nghiệp vẫn mất nhiều thời gian cho thủ tục; cán bộ vẫn xử lý bằng thói quen thủ công; các cơ quan vẫn giữ dữ liệu như “tài sản riêng” của mình.

Từ góc nhìn đó, yêu cầu về dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống, liên thông” là một trong những thông điệp rất sâu sắc. Dữ liệu không chỉ là tài nguyên số, mà còn là nền tảng của niềm tin quản trị. Dữ liệu đúng thì quyết định mới đúng. Dữ liệu đủ thì chính sách mới bao quát. Dữ liệu sạch thì hệ thống mới minh bạch. Dữ liệu sống thì quản trị mới theo kịp thực tiễn. Dữ liệu liên thông thì Nhà nước mới phục vụ người dân và doanh nghiệp như một chỉnh thể thống nhất, thay vì để người dân phải đi qua nhiều “cửa” khác nhau trong cùng một bộ máy.

Ở chiều sâu hơn, Nghị quyết 57 đang đặt ra yêu cầu xây dựng kỷ luật dữ liệu trong hệ thống chính trị. Không thể có chuyển đổi số thực chất nếu thiếu kỷ luật cập nhật, chia sẻ, chuẩn hóa và khai thác dữ liệu. Không thể có chính phủ số nếu dữ liệu bị phân mảnh. Không thể có kinh tế số nếu doanh nghiệp không tiếp cận được hạ tầng dữ liệu tin cậy. Không thể có xã hội số nếu người dân chưa được hưởng lợi từ các dịch vụ thông minh, thuận tiện, an toàn.

Bởi vậy, triển khai Nghị quyết 57 không phải là “số hóa cái cũ”, càng không phải là đưa những thủ tục rườm rà lên môi trường mạng. Triển khai Nghị quyết 57 là tái thiết cách nghĩ, cách làm, cách tổ chức và đo lường kết quả. Đó là chuyển đổi từ quản lý bằng hồ sơ sang quản trị bằng dữ liệu; từ xử lý sự vụ sang dự báo chính sách; từ tư duy ngành dọc sang liên thông hệ thống; từ hoàn thành nhiệm vụ hành chính sang tạo ra giá trị phát triển.

2(1).jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm rưỡi triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Ảnh: Phạm Thắng

Điều này cũng đòi hỏi một cơ chế đánh giá cán bộ mới. Nếu kết quả thực hiện Nghị quyết 57 được coi là tiêu chí quan trọng trong đánh giá năng lực, trách nhiệm và bản lĩnh của người đứng đầu, thì chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo sẽ không còn là việc “giao thêm” cho một bộ phận chuyên môn, mà trở thành nhiệm vụ chính trị trung tâm của từng cấp, ngành, từng địa phương. Nơi nào làm tốt phải được ghi nhận, nhân rộng. Nơi nào làm hình thức, chậm trễ, né tránh phải được nhắc nhở, kiểm điểm. Người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung phải được khuyến khích và bảo vệ.

Đó là tinh thần rất quan trọng. Bởi đổi mới sáng tạo luôn gắn với thử nghiệm, mà thử nghiệm thì luôn có rủi ro. Nếu chỉ yêu cầu cán bộ đổi mới nhưng không có cơ chế bảo vệ người đổi mới, chúng ta sẽ khó vượt qua tâm lý an toàn, sợ sai, sợ trách nhiệm. Ngược lại, nếu có cơ chế khuyến khích đúng, kiểm soát đúng và bảo vệ đúng, Nghị quyết 57 sẽ tạo ra một sinh khí mới trong bộ máy: dám nhận bài toán khó, dám tìm cách làm mới, dám chịu trách nhiệm đến cùng về kết quả.

Làm chủ công nghệ, phát triển con người, kiến tạo năng lực quốc gia

Thông điệp lớn thứ hai trong bài phát biểu là khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã trở thành vấn đề sống còn của năng lực tự chủ quốc gia. Trong một thế giới đang cạnh tranh gay gắt về công nghệ, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, năng lượng mới, sinh học, an ninh mạng, đại dương và không gian số, quốc gia nào không làm chủ được tri thức và công nghệ sẽ rất dễ bị lệ thuộc trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Đây là điểm cần được nhận thức sâu sắc. Chúng ta không thể phát triển nhanh và bền vững nếu chỉ dựa vào vốn, tài nguyên, lao động giá rẻ hay lợi thế thị trường. Những lợi thế ấy có thể giúp một quốc gia tăng trưởng trong một giai đoạn, nhưng không thể tạo ra vị thế lâu dài. Trong kỷ nguyên mới, năng lực cạnh tranh quốc gia phải được xây dựng trên khả năng sáng tạo tri thức, làm chủ công nghệ, quản trị dữ liệu, phát triển nhân lực chất lượng cao và chuyển hóa các nguồn lực ấy thành sản phẩm, dịch vụ, mô hình quản trị, giá trị văn hóa và sức mạnh mềm của đất nước.

Đáng chú ý là cách Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm rõ mối quan hệ giữa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: khoa học tạo ra tri thức mới; công nghệ biến tri thức thành công cụ; đổi mới sáng tạo biến công cụ thành giá trị mới cho xã hội. Ba yếu tố đó phải gặp nhau trong thực tiễn phát triển của đất nước. Đây là một cách diễn đạt ngắn gọn nhưng có tính định hướng rất lớn. Nó nhắc chúng ta rằng không thể để khoa học đứng ngoài thị trường, công nghệ nằm mãi trong phòng thí nghiệm, đổi mới sáng tạo chỉ là phong trào, còn doanh nghiệp thì thiếu cơ chế để thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Muốn Nghị quyết 57 đi vào cuộc sống, phải hình thành một hệ sinh thái. Trong đó, Nhà nước kiến tạo thể chế, doanh nghiệp là trung tâm đổi mới sáng tạo, viện nghiên cứu và trường đại học là nguồn phát sinh tri thức, địa phương là không gian thí điểm chính sách, còn người dân là chủ thể thụ hưởng và đồng sáng tạo giá trị. Khi các mắt xích ấy kết nối với nhau, khoa học - công nghệ mới trở thành động lực phát triển thực sự.

3(2).jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm rưỡi triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Ảnh: Phạm Thắng

Trong hệ sinh thái ấy, doanh nghiệp phải được đặt đúng vị trí trung tâm. Đổi mới sáng tạo không thể chỉ diễn ra trong các báo cáo nghiên cứu. Nó phải diễn ra trong nhà máy, trong nền tảng số, trong chuỗi cung ứng, mô hình kinh doanh, trong dịch vụ công, đời sống hằng ngày. Doanh nghiệp là nơi cảm nhận rõ nhất áp lực cạnh tranh, nhu cầu thị trường và đòi hỏi đổi mới. Vì vậy, Nhà nước cần tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu phát triển, tiếp cận dữ liệu, thử nghiệm công nghệ mới, tham gia đặt hàng nhiệm vụ khoa học - công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Địa phương cũng cần chuyển vai rất mạnh. Không thể thụ động chờ hướng dẫn, cũng không thể chỉ triển khai theo mẫu chung. Mỗi địa phương phải nhận diện bài toán phát triển của mình để đặt hàng công nghệ, thí điểm mô hình mới, xây dựng dữ liệu mở, thu hút doanh nghiệp công nghệ và tạo ra những không gian thử nghiệm chính sách. Làm được như vậy, chuyển đổi số sẽ trở thành lời giải cho những vấn đề rất cụ thể của cuộc sống.

Tuy nhiên, tất cả cuối cùng vẫn quay trở lại với con người. Vì vậy, yêu cầu chuẩn bị nguồn nhân lực cho 10 năm tới là một thông điệp có tầm nhìn xa. Thế hệ sinh viên hôm nay sẽ là đội ngũ kỹ sư, nhà khoa học, chuyên gia dữ liệu, chuyên gia trí tuệ nhân tạo, nhà quản trị công nghệ, doanh nhân sáng tạo của đất nước trong một thập niên tới. Điều đó đặt ra trách nhiệm rất lớn cho giáo dục và đào tạo. Cần có chuyển biến thực chất trong đào tạo các ngành khoa học cơ bản, công nghệ lõi, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, bán dẫn, an ninh mạng, tự động hóa, công nghệ sinh học, năng lượng mới. Gắn đào tạo với nhu cầu của doanh nghiệp, các bài toán chiến lược của quốc gia, với các trung tâm nghiên cứu mạnh và với hợp tác quốc tế. Cần coi nhân tài khoa học - công nghệ là tài sản chiến lược, có chính sách đủ hấp dẫn để thu hút, trọng dụng, bảo vệ và phát huy.

Nhìn rộng hơn, Nghị quyết 57 là nghị quyết về tương lai phát triển của đất nước; đặt ra câu hỏi: Việt Nam muốn đứng ở đâu trong bản đồ công nghệ thế giới? Muốn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu ở tầng nào? Muốn đi lên bằng gia công hay bằng sáng tạo? Muốn là thị trường tiêu thụ công nghệ hay là quốc gia làm chủ và tạo ra công nghệ? Muốn chuyển đổi số để thuận tiện hơn một vài thủ tục, hay để tái cấu trúc toàn bộ năng lực quản trị và phát triển?

Câu trả lời phải nằm ở sản phẩm vận hành được, dữ liệu kết nối được, công nghệ làm chủ được, doanh nghiệp lớn lên được, cán bộ trưởng thành qua thực tiễn được, người dân được phục vụ tốt hơn và đất nước có thêm năng lực tự chủ. Đó chính là thước đo cuối của Nghị quyết 57.

Trong kỷ nguyên mới, không có con đường nào khác ngoài con đường phát triển dựa trên tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo và con người Việt Nam. Nhưng để đi được con đường ấy, chúng ta cần một tinh thần thực thi mới: nói ít hơn nhưng làm sâu hơn; ban hành ít hình thức hơn nhưng tạo nhiều kết quả hơn; quản lý ít mệnh lệnh hơn nhưng kiến tạo nhiều năng lực hơn; đánh giá ít bằng báo cáo hơn nhưng nhiều hơn bằng dữ liệu, sản phẩm và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp.

Đó là ý nghĩa sâu xa của yêu cầu triển khai Nghị quyết 57 phải thực chất và hiệu quả hơn. Thực chất để không lãng phí thời cơ. Hiệu quả để biến khát vọng thành năng lực. Và quyết liệt để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số thực sự trở thành động lực chủ yếu đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, tự chủ và nhân văn trong giai đoạn mới.

    Nổi bật
        Thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc sơ kết thực hiện Nghị quyết 57 - NQ/TW của Bộ Chính trị: Từ chuyển đổi số đến chuyển đổi năng lực quốc gia
        • Mặc định