Thời sự Quốc hội

Tháo gỡ vướng mắc cho các địa phương có trữ lượng rừng bán được tín chỉ carbon

Võ Linh - Bách Hợp - Huyền My • 24/10/2026 18:01

Thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường tại Tổ 4 ( gồm Đoàn ĐBQH thành phố Đồng Nai và các tỉnh Quảng Trị, Điện Biên) các đại biểu đề nghị, sớm tháo gỡ vướng mắc về tín chỉ carbon, tạo điều kiện cho các địa phương có trữ lượng rừng tiếp cận được với thị trường bán tín chỉ carbon.

Quang cảnh thảo luận tại Tổ 4
Quang cảnh thảo luận tại Tổ 4. Ảnh: Lâm Hiển

Bảo đảm tính bền vững và khả năng kiểm soát ô nhiễm nguồn nước

Dành sự quan tâm đặc biệt đến chính sách xử lý nước thải sinh hoạt, ĐBQH Lê Hoàng Hải (TP. Đồng Nai) đánh giá cao, xét về tổng thể dự thảo Luật đã có những chuyển biến tích cực nhằm giải quyết bất cập trong quản lý nước thải sinh hoạt như: kiểm soát chặt chẽ xả thải vào nguồn nước suy thoái (Khoản 2 Điều 7) bằng cách cấm các dự án mới mở rộng xả trực tiếp nước thải vào nguồn nước mặt đã hết khả năng chịu tải (trừ khi tuần hoàn 100% hoặc xử lý đạt quy chuẩn nước mặt); bổ sung cơ chế pháp lý rõ ràng (Điều 72 & Điều 72a) cho phép nước thải sinh hoạt sau xử lý được tái sử dụng (cho tưới cây, rửa đường, làm mát...).

Theo đại biểu, quy định trên sẽ tạo áp lực bắt buộc các đô thị và dự án lớn phải đầu tư công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt sâu hơn trước khi xả ra môi trường. Đồng thời, thay đổi tư duy từ “xử lý chất thải” sang “khai thác tài nguyên nước”, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn nước thải.

Tuy nhiên, khi nghiên cứu Điều 40 với thực tế quản lý thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, đại biểu nhận thấy một số bất cập như: Dự thảo Luật chưa tách biệt bản chất giữa nước thải sinh hoạt và nước thải sản xuất. Bởi, nước thải sinh hoạt (từ văn phòng, tòa nhà, khu dân cư) có lưu lượng và nồng độ chất ô nhiễm (BOD, COD, Amoni...) biến động mạnh theo giờ sinh hoạt trong ngày và theo mùa. Việc cấp phép theo “lưu lượng tối đa” và “giới hạn thông số cố định” như đối với nước thải công nghiệp dẫn đến tình trạng: Hệ thống xử lý sinh học của dự án bị quá tải sinh học cục bộ vào giờ cao điểm, gây ra vi phạm hành chính do thông số vượt chuẩn, mặc dù tổng tải lượng ô nhiễm trong ngày không vượt cấp phép.

ĐBQH Lê Hoàng Hải (TP. Đồng Nai) phát biểu thảo luận
ĐBQH Lê Hoàng Hải (TP. Đồng Nai) phát biểu thảo luận. Ảnh: Lâm Hiển

Bất cập tiếp theo đó là xác định “nguồn tiếp nhận nước thải”. Thực tế, nhiều dự án, khu dân cư phải xả nước thải sinh hoạt vào hệ thống thoát nước chung của đô thị, cụm công nghiệp (chưa có nhà máy tập trung) chứ không xả trực tiếp ra sông, hồ. Trong khi đó, điểm a khoản 2 Điều 40 buộc ghi rõ vị trí và nguồn tiếp nhận nước mặt cuối cùng trong cấp phép môi trường là đẩy trách nhiệm kiểm soát nguồn tiếp nhận (khả năng chịu tải của sông, hồ) lên chủ dự án nhỏ, trong khi đây là trách nhiệm quản lý hạ tầng chung của chính quyền địa phương.

Từ các bất cập trên, đại biểu đề nghị chỉnh lý các quy định tại Điều 40 (được sửa đổi, bổ sung) theo hướng cần phân định rõ tiêu chuẩn và phương thức cấp phép xả nước thải đối với nước thải sinh hoạt (dựa trên quản lý tổng tải lượng/trung bình ngày) khác với nước thải công nghiệp nguy hại.

Cũng về nội dung này, ĐBQH Nguyễn Minh Tâm ( Quảng Trị) đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định về đầu tư xây dựng hạ tầng bảo vệ môi trường đối với các khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung chưa hoàn thiện hạ tầng xử lý nước thải, chất thải.

ĐBQH Nguyễn Minh Tâm (Quảng Trị) phát biểu thảo luận
ĐBQH Nguyễn Minh Tâm (Quảng Trị) phát biểu thảo luận. Ảnh: Lâm Hiển

Dẫn chứng thực tế các khu công nghiệp, khu sản xuất tập trung đang hoạt động trên cả nước nói chung và Quảng Trị nói riêng (Quảng Trị hiện có 31 cụm công nghiệp đã được thành lập và đi vào vận hành), có thể thấy rất rõ hạ tầng bảo vệ môi trường giữa các khu, cụm công nghiệp chưa đồng đều; một số nơi chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung, trong khi một số công trình đã qua thời gian sử dụng, có dấu hiệu hao mòn, xuống cấp. Trong thời gian chờ hoàn thiện, nâng cấp hạ tầng, các cơ sở sản xuất vẫn phải tự xử lý nước thải đạt quy chuẩn trước khi xả ra môi trường và thực hiện các thủ tục môi trường theo quy định.

Nhằm bảo đảm tính bền vững và khả năng kiểm soát ô nhiễm được bảo đảm lâu dài, nhất là khi quy mô sản xuất gia tăng, hạ tầng tiếp tục xuống cấp hoặc tổng lượng nước thải vượt khả năng tiếp nhận của nguồn nước. Đại biểu kiến nghị cần bổ sung đối với các dự án khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung đang hoạt động nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu cần được quy định rõ ràng hơn Luật.

Đặc biệt, quy định thời gian bắt buộc hoàn thiện hạ tầng xử lý nước thải đối với khu, cụm công nghiệp đang hoạt động nhưng chưa đáp ứng yêu cầu; đồng thời quy định trách nhiệm phối hợp giữa chủ đầu tư hạ tầng và cơ sở sản xuất khi nước thải vượt chuẩn quy định được xả thải ra môi trường.

“

Việc hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường không chỉ giải quyết triệt để nguy cơ ô nhiễm mà còn là “chìa khóa” giúp các địa phương nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư, tạo dựng môi trường đầu tư hấp dẫn và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững trong giai đoạn mới.

ĐBQH Nguyễn Minh Tâm ( Quảng Trị)

Thống nhất tiêu chuẩn tạo tín chỉ, hệ thống đăng ký và kiểm chứng dữ liệu

Liên quan đến tín carbon và thị trường tín chỉ carbon, ĐBQH Lò Thị Luyến (Điện Biên) thừa nhận, dù có lợi thế về rừng, nhiều địa phương miền núi, trong đó có Điện Biên vẫn thiếu kinh phí kiểm kê, đánh giá trữ lượng rừng và xác định lượng tín chỉ carbon cũng như tham gia vào thị trường...

Liên quan đến điểm b khoản 1 Điều 1, đại biểu đánh giá cao dự thảo trình sửa đổi, bổ sung lần này hoàn thiện cách giải thích và cụ thể hơn. Đây là sự thay đổi đúng hướng, không chỉ về giải thích từ ngữ mà còn về phương thức quản lý.

ĐBQH Lò Thị Luyến ( Điện Biên) phát biểu thảo luận tại Tổ 4
ĐBQH Lò Thị Luyến ( Điện Biên) phát biểu thảo luận tại Tổ 4. Ảnh: Lâm Hiển

Đồng tình với việc tăng cường kiểm kê hằng năm, song đại biểu đề nghị có phương pháp thống nhất, dữ liệu đáng tin cậy và hỗ trợ kỹ thuật cho doanh nghiệp, địa phương kiểm kê, đánh giá trữ lượng rừng.

Đại biểu Lò Thị Luyến cho rằng thị trường carbon đang mở ra cơ hội rất lớn nhưng chưa dễ khai thác. Đại biểu lấy dẫn chứng, ở trong nước, sàn giao dịch carbon đã vận hành thí điểm từ ngày 29/6/2026. Đây là điều kiện để doanh nghiệp mua, bán hạn ngạch và từng bước giao dịch tín chỉ carbon, tạo thêm nguồn vốn cho tiết kiệm năng lượng, bảo vệ rừng, nông nghiệp phát thải thấp và xử lý chất thải. Tuy nhiên, đến giữa tháng 9/2026, sàn mới ghi nhận 7 giao dịch với 1.310 hạn ngạch...

Theo đại biểu, nguyên nhân khiến số giao dịch chưa đạt được như kỳ vọng là do tín chỉ muốn bán phải chứng minh kết quả giảm phát thải thực chất, được đo đạc, thẩm định theo tiêu chuẩn được chấp nhận. Chi phí xác nhận cao, giá quốc tế biến động; quyền sở hữu tín chỉ, chia sẻ lợi ích và nguy cơ tính trùng lượng giảm phát thải vẫn là những vấn đề phải giải quyết...

Nhằm khắc phục những khó khăn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của các địa phương có rừng, đại biểu đề nghị Chính phủ sớm hoàn thiện quy định hướng dẫn thi hành, thống nhất tiêu chuẩn tạo tín chỉ, hệ thống đăng ký và kiểm chứng dữ liệu; làm rõ chủ thể có quyền bán và cơ chế chia sẻ lợi ích. Đồng thời, cần hỗ trợ chi phí đo đạc, thẩm định đối với các dự án quy mô nhỏ, tạo điều kiện để người dân có thu nhập và sống được với rừng...

    Tháo gỡ vướng mắc cho các địa phương có trữ lượng rừng bán được tín chỉ carbon
    • Mặc định