Thành tựu của Nhật Bản
Vào cuối thập kỷ 1990, Thủ tướng Hashimoto Ryutaro - người có tư tưởng cải cách - đã thành lập Hội đồng Cải cách hành chính và đích thân làm Chủ tịch Hội đồng. Hội đồng đã áp dụng lý thuyết của quản lý công mới và đưa ra các biện pháp cải cách.
Nhật Bản có truyền thống là một “Nhà nước mạnh” từ thời kỳ Minh Trị (thế kỷ XIX). Mặc dù Nhật Bản đã thay đổi từ chế độ chính trị kiểu cũ sang chế độ dân chủ sau Chiến tranh Thế giới thứ II, nhưng bộ máy hành chính quan liêu mạnh vẫn tồn tại. Vào những năm 1970, Mỹ và các nước châu Âu đã chỉ trích rằng thị trường Nhật Bản không bình đẳng, đóng cửa với các nhà tư bản bên ngoài. Năm 1981, Chính phủ đã thành lập Ủy ban lâm thời về Cải cách hành chính (PACR) nhằm “xây dựng lại nền tài chính mà không cần tăng thuế” và chuẩn bị cho thời kỳ “toàn cầu hóa”. Ủy ban này đã đề nghị Chính phủ thẩm định và áp dụng các biện pháp cải cách nhằm thúc đẩy việc quy chế hóa, phân quyền và tư nhân hóa. Tuy nhiên, thời điểm đó, sự liên kết chặt chẽ giữa các chính khách, quan chức nhà nước và các tập đoàn kinh doanh rất mạnh, đủ để phớt lờ các khuyến nghị của Ủy ban Cải cách.
Vào cuối thập kỷ 1990, Thủ tướng Hashimoto Ryutaro đã thành lập Hội đồng Cải cách hành chính và đích thân làm Chủ tịch Hội đồng. Hội đồng đã áp dụng lý thuyết của quản lý công mới và đưa ra các biện pháp cải cách.
![]() |
Thành lập Văn phòng Nội các
Văn phòng Nội các mới là tổ chức giúp việc của Thủ tướng. Văn phòng điều phối các chính sách của Chính phủ dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng. Một vài cơ quan và tổ chức độc lập (Cục Phòng vệ, Cục Tài chính và Ủy Ban An toàn quốc gia…) đã chuyển sang trực thuộc Văn phòng Nội các. Đạo luật thành lập Văn phòng Nội các bắt đầu có hiệu lực từ tháng 7.1999.
Tổ chức lại các bộ và cơ quan ở trung ương
Tổ chức lại các cơ quan ở trung ương là một trong những ưu tiên lớn của Chính phủ dưới thời Thủ tướng Hashimoto. Dưới sự chỉ đạo của Thủ tướng, Hội đồng Cải cách đã chuẩn bị kế hoạch cắt giảm một nửa số lượng các bộ, ngành, trung ương. Việc cắt giảm này thành công chủ yếu nhờ sáp nhập các bộ và cơ quan trung ương. Hơn nữa, Chính phủ cũng đã xác định thời hạn tư nhân hóa Bộ Bưu điện và Viễn thông năm 2003. Tháng 7.1999, Đạo luật về Tổ chức lại các bộ ở trung ương bắt đầu có hiệu lực.
Bổ nhiệm thứ trưởng
Để tăng cường sự lãnh đạo chính trị đối với các bộ, Chính phủ đã bổ nhiệm các thứ trưởng ở mỗi bộ để giúp bộ trưởng. Tổng số 22 thứ trưởng được bổ nhiệm ở mỗi bộ thuộc Nội các. Thêm vào đó, Chính phủ đã bổ nhiệm 26 “phụ tá Nghị viện”, những người sẽ giải quyết việc xây dựng chính sách và kế hoạch đặc biệt dưới sự chỉ đạo của bộ trưởng. Điều đó có nghĩa là gần 50 chính khách được bổ nhiệm cùng với 14 bộ trưởng (Bộ trưởng Nhà nước) lãnh đạo bộ máy hành chính.
Pháp nhân hành chính độc lập
Chính phủ đã chuyển đổi 80 cơ quan thành Pháp nhân hành chính độc lập (Independent Administrative Corporation - IAC), bao gồm các cơ sở in tiền, in ấn, bệnh viện, bảo tàng quốc gia và phòng thí nhiệm. Trong cơ cấu của các Pháp nhân hành chính độc lập, có một cơ quan đứng đầu chuẩn bị kế hoạch hoạt động trung hạn và quản lý ngân sách do Chính phủ cung cấp. Địa vị của những người làm việc tại đây được phân thành 2 loại: Công chức (tư cách công chức) và phi công chức. Mục đích đầu tiên của IAC là “tách chức năng xây dựng và thực hiện chính sách, đổi mới hiệu quả và chất lượng dịch vụ cung cấp cho nhân dân bằng việc giao cho các cơ quan này nhiều quyền tự chủ và trách nhiệm hơn, bảo đảm tính minh bạch trong hoạt động”. Hiện nay, vấn đề tranh cãi nhất là chuyển giao các đại học quốc gia thành pháp nhân hành chính độc lập.
Phân quyền
Căn cứ trên khuyến nghị của Ủy ban Thúc đẩy phân quyền, Chính phủ đã sửa đổi các luật liên quan nhằm chuyển giao thẩm quyền của trung ương và cho phép địa phương tự chủ nhiều hơn. Trước tiên, Cơ quan Phân quyền hệ thống chức năng, có nhiệm vụ hợp pháp hóa việc kiểm soát chung của chính quyền trung ương với chính quyền địa phương đã bị hủy bỏ. Việc thực hiện chính sách phân quyền sẽ biến đổi Chính quyền trung ương và chính quyền địa phương từ mối quan hệ mệnh lệnh - phục tùng sang quan hệ bình đẳng hơn. Thứ hai, thành lập bên thứ ba để giải quyết xung đột giữa trung ương và địa phương. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa trung ương và địa phương về tài chính vẫn không thay đổi và vấn đề này tiếp tục chờ các cuộc tranh cãi tiếp theo.
Cải cách công vụ
Tháng 3.1999, Hội đồng Cải cách hệ thống Công vụ đã đệ trình báo cáo về cải cách hệ thông công vụ quốc gia. Hội đồng đã đề nghị chương trình cải cách như sau: Sửa đổi hệ thống thi tuyển đầu vào, áp dụng nguyên tắc trả lương theo công trạng, xây dựng đạo đức, gia hạn việc nghỉ hưu, thúc đẩy trao đổi nhân sự giữa khu vực công và khu vực tư… Các biện pháp này rất hợp lý, được thực hiện từng bước và rất cơ bản.
Nhật Bản có xu hướng tích cực áp dụng các biện pháp cải cách của Quản lý công mới. Tuy nhiên, dường như có rất ít bằng chứng cho rằng các nhà lãnh đạo chính trị thực sự hiểu được ý nghĩa của tư tưởng “định hướng theo khách hàng - công dân” hoặc “Chính phủ định hướng theo kết quả”. Ví dụ, việc thành lập các bộ lớn dường như lại là khoảng cách với lý thuyết của Quản lý công mới. Đó là tăng cường trách nhiệm của các cơ quan công quyền qua hình thức phân quyền. Ở trường hợp các pháp nhân hành chính độc lập, kết quả mong muốn về cải tiến dịch vụ vẫn là câu hỏi khó trả lời khi Chính phủ tập trung tinh giản bộ máy cơ quan hành chính trung ương. Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, trong thời kỳ chuyển đổi từ Nhà nước quan liêu truyền thống sang quản trị nhà nước định hướng tới khách hàng, toàn cảnh tương lai cải cách hành chính của Nhật Bản chắc chắn sẽ thay đổi.


