Thách thức thiếu hụt nguồn lực tài chính

Ngọc Minh 27/12/2012 14:28

Kể từ ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện năm 1990, đến tháng 10/2012 trên địa bản cả nước tổng số người nhiễm HIV hiện còn sống là 206.815 người, số người nhiễm HIV đã tử vong 53.773. Việc khống chế dịch HIV/AIDS ở Việt Nam đã đạt được nhiều bước tiến, ngày càng đến gần hơn với mục tiêu chấm dứt được đại dịch HIV/AIDS. Tuy nhiên, để thực hiện được mục tiêu ba không do Liên Hợp Quốc đề ra: Không còn người nhiễm mới HIV; không còn người tử vong do AIDS và không còn kỳ thị, phân biệt đối xử với HIV/AIDS vấn còn là thách thức lớn.

Mục tiêu, nhiệm vụ rõ ràng

Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn năm 2030 đã xác định rõ, vào năm 2020 khống chế tỷ lệ nhiễm HIV trong cộng động dân cư dưới 0,3%. Cụ thể, tăng tỷ lệ người dân trong độ tuổi từ 15 đến 49 tuổi có hiểu biết đầy đủ về HIV/AIDS đạt 80% vào năm 2020; tăng tỷ lệ người dân không phân biệt kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV đạt 80% vào năm 2020; giảm 50% số trường hợp nhiễm mới HIV trong nhóm nghiện chích vào năm 2015 và 80% vào năm 2020 so với năm 2010; giảm 50% số trường hợp nhiễm mới HIV do lây truyền HIV qua đường tình dục vào năm 2015 và 80% vào năm 2020 so với năm 2010; giảm tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con xuống dưới 5% vào năm 2015 và dưới 2% vào năm 2020; tăng tỷ lệ người nhiễm HIV được điều trị thuốc kháng vi rút HIV đạt 80% trên tổng số người nhiễm HIV đủ tiêu chuẩn điều trị vào năm 2020.

Đến năm 2030 hướng tới ứng dụng các kỹ thuật mới có tính đặc hiệu cao về dự phòng, điều trị HIV/AIDS và tầm nhìn ba không của Liên Hợp Quốc: Không còn người nhiễm mới HIV, không còn người tử vong do AIDS và không còn kỳ thị, phân biệt đối xử với HIV/AIDS.

Để đạt được những mục tiêu nêu trên, Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn năm 2030 đã xác định những nhiệm vụ cơ bản gồm: Thứ nhất, tổ chức thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS tới mọi đối tượng, trong đó phải kết hợp giữa tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống HIV/AIDS với tuyên truyền về tác hại, hậu quả và các biện pháp phòng, chống HIV/AIDS. Thứ hai, huy động mọi nguồn lực và sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, mỗi người dân và cộng đồng vào các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS. Thứ ba, tổ chức triển khai các biện pháp chuyên môn kỹ thuật y tế nhằm hạn chế đến mức tối đa sự lây truyền của HIV và giải quyết các vấn đề liên quan đến sức khỏe người bệnh AIDS. Thứ tư, kết hợp chặt chẽ hoạt động phòng, chống HIV/AIDS với các hoạt động phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm. Thứ năm, thực hiện các cam kết và tổ chức thực hiện có hiệu quả các hoạt động hợp tác quốc tế về phòng, chống HIV/AIDS.

Thách thức từ thiếu hụt nguồn lực tài chính

Vấn đề đảm bảo nguồn tài chính vững bền cho công tác phòng chống HIV/AIDS không chỉ Việt Nam mà những nước đang phát triển khác đều phải đối mặt. Để thực hiện được các mục tiêu Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn năm 2030 đề ra, đòi hỏi Việt Nam phải có đầy đủ nguồn lực về mọi mặt, trong đó nguồn lực tài chính luôn đóng vai trò quyết định.

Cục Phòng chống HIV/AIDS cho biết, từ năm 2013 các khoản tài trợ quốc tế cho phòng chống HIV/AIDS ở VN sẽ giảm dần và chưa có tín hiệu nối lại sau năm 2015. Tổ chức tài trợ cho Việt Nam phòng chống HIV/AIDS nhiều nhất là PEPFAR đã chính thức có thông báo giảm dần hỗ trợ từ năm 2013 về thuốc kháng virút, sinh phẩm chẩn đoán, chuyển dần sang chỉ hỗ trợ kỹ thuật. Hỗ trợ của WB sẽ kết thúc vào năm 2013. Hai dự án còn kéo dài đến năm 2015 là của Quỹ Toàn cầu và PEPFAR chưa có biểu hiện mở thêm các vòng mới.

Từ nay đến năm 2015, tổng kinh phí được duyệt từ các nguồn là 3.700 tỷ đồng. Khoản kinh phí này chỉ đáp ứng một nửa nhu cầu do chi phí cho phòng chống HIV/AIDS. Do đó, Việt Nam cần tiếp tục tăng các nguồn kinh phí trong nước dành cho phòng chống HIV/AIDS để bù đắp thiếu hụt trong các năm tới do cắt giảm các nguồn tài trợ nước ngoài và để không đảo ngược những thành thành tựu đạt được qua hơn 20 năm phòng chống HIV/AIDS.

Giải pháp huy động nguồn lực tài chính cho phòng chống HIV/AIDS đã được đặt ra là từ các nguồn của trung ương, địa phương, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong, ngoài nước và nhân dân để bảo đảm nguồn lực cho việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Chiến lược, trong đó xác định nguồn đầu tư từ ngân sách là chính.

Mặt khác, thực hiện các biện pháp nhằm tăng dần tỷ trọng của bảo hiểm y tế tham gia chi trả cho các dịch vụ về HIV/AIDS có thể nói là giải pháp quan trọng để nguồn tài chính luôn bảo đảm được. Theo quy định của Luật BHYT, Quỹ BHYT chỉ chi trả chi phí khám chữa bệnh HIV/AIDS của người có thẻ BHYT như các bệnh khác về chẩn đoán, điều trị HIV/AIDS, chẩn đoán điều trị các bệnh khác. Tuy nhiên, hiện chưa có số liệu chính thức về những người nhiễm HIV/AIDS tham gia bảo hiểm y tế và số liệu người có thẻ BHYT đang điều trị HIV/AIDS. Do đó, trước mắt cần phải thực hiện công tác thống kê, tiến tới đề ra được giải pháp tăng dần tỷ trọng của bảo hiểm y tế cho công tác phòng chống HIV/AIDS như lồng ghép Chiến lược phòng, chống HIV/AIDS và các chương trình khác.

Tuy nhiên, dù Nhà nước có gia tăng đầu tư cho công tác phòng chống HIV/AIDS thì cũng rất cần phải xã hội hóa hoạt động phòng chống HIV/AIDS để huy động tối đa nguồn lực của toàn xã hội. Khi chúng ta huy động được toàn xã hội tham gia vào công tác phòng chống HIV/AIDS thì chắc chắn các mục tiêu đặt ra trong Chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS sẽ đạt được. 

    Thách thức thiếu hụt nguồn lực tài chính
    • Mặc định