Tập trung vấn đề mới, tránh chồng chéo
Xây dựng và ban hành Luật Dân số là cần thiết. Tuy nhiên, luật cần tập trung vào những vấn đề dân số mới phát sinh; tránh sự chồng chéo với các văn bản pháp luật khác… là nội dung được các chuyên gia đề cập tại cuộc Tọa đàm về Dự thảo Luật Dân số do Ủy ban Về các vấn đề xã hội tổ chức mới đây.
Nhiều vấn đề nổi cộm…
Theo báo cáo của đại diện Ban soạn thảo Dự thảo Luật Dân số, do hoàn cảnh kinh tế, xã hội và các chỉ báo về nhân khẩu học đã có nhiều thay đổi so với 10 năm trước nên Pháp lệnh Dân số 2003 đã bộc lộ nhiều hạn chế và lạc hậu. Có thể kể đến những vấn đề nổi cộm xuất hiện trong dân số Việt Nam là hiện tượng di cư diễn ra ngày càng mạnh mẽ; nhu cầu tư vấn và cung cấp phương tiện, dịch vụ KHHGĐ cho người di cư ngày càng lớn. Theo điều tra của Tổng cục Thống kê năm 2004 cho thấy, 64% người di cư thuộc nhóm 15-29 tuổi và gần 70% chưa kết hôn. Do vậy, nhu cầu truyền thông về hôn nhân, KHHGĐ, bảo vệ sức khỏe sinh sản, cung cấp phương tiện và dịch vụ thích hợp cho đối tượng này rất cần thiết.
Bên cạnh đó, nước ta đang bước vào giai đoạn cơ cấu dân số vàng đồng thời cũng bước vào giai đoạn già hóa dân số. Năm 2007, nước ta có tỷ lệ người cao tuổi là 9,45%, đến năm 2020 số người cao tuổi của nước ta sẽ vượt quá 10 triệu người và chiếm trên 10% dân số. Hiện có tới 73% người cao tuổi sống ở nông thôn trong đó rất ít người được hưởng lương hưu, trợ cấp mà đa phần sống bằng chính sức lao động của mình hoặc hỗ trợ từ gia đình, 60% - 70% số người cao tuổi có bệnh ốm đau cần được chăm sóc sức khỏe, nhưng không có thẻ bảo hiểm y tế mà do gia đình chi trả phí dịch vụ và tự chăm sóc bệnh nhân.
![]() Nguồn: sotay.ru |
Mặt khác, mặc dù chất lượng dân số trong những năm qua đã tăng nhưng chậm được cải thiện. HDI của nước ta không ngừng tăng nhưng so với thế giới thứ hạng còn thấp. Năm 2009 vẫn xếp thứ 116 trong số 182 nước, chưa bao giờ lọt vào tốp 100 nước phát triển. Hiện nay, nhiều mô hình nâng cao chất lượng dân số được nghiên cứu thử nghiệm và từng bước mở rộng tại 30 tỉnh, thành phố. Song nhiều bà mẹ mang thai còn chưa có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, sàng lọc trước sinh và sơ sinh… Còn có sự khác biệt khá lớn về chỉ báo sức khỏe trẻ em giữa các vùng miền… Đặc biệt, hiện nay nổi lên việc đẻ thuê, đẻ hộ, mua bán tinh trùng, noãn đang diễn ra khá phổ biến nhưng vẫn chưa có văn bản pháp luật nào điều chỉnh.
Theo đó, việc xây dựng, ban hành Luật Dân số được các đại biểu tham gia tọa đàm cho là cần thiết trong giai đoạn hiện nay, nhằm tạo cơ sở hành lang pháp lý vững chắc cho việc quản lý dân số và công tác dân số hiệu quả hơn.
Tránh sự chồng chéo
Đây là băn khoăn của hầu hết các đại biểu tham gia tọa đàm về dự thảo Luật Dân số. 10 năm trước, khi xây dựng Pháp lệnh Dân số, “thị phần” cho dân số còn khá rộng thì nay các vấn đề liên quan đến dân số có tới trên mười bộ luật đã ban hành. Việc xây dựng Luật Dân số sẽ là thách thức đối với những người soạn thảo khi chạm vào vấn đề thuộc về chuyên môn như mang thai hộ, sàng lọc sơ sinh… đã được Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Khám chữa bệnh quy định chi tiết.
Do vậy, theo Gs Nguyễn Đình Cử, Viện Dân số và các vấn đề xã hội, ĐH Kinh tế quốc dân, xây dựng Luật Dân số cần đi theo hướng tập trung vào những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn, thay vì tập trung vào những vấn đề thuộc về chuyên môn của các bộ, ngành khác. Cụ thể đó là các vấn đề thuộc kế hoạch hóa gia đình trong điều kiện mức sinh thay thế, mua - bán, trao tặng, hiến trứng và tinh trùng, mang thai thuê, lựa chọn ngày, giờ sinh, lựa chọn giới tính, đa thai… Có nghĩa, việc xây dựng Luật Dân số có thể đi theo một quá trình sinh trưởng của con người từ khi còn là bào thai cho đến lúc chết đi. Ngoài ra, Ban soạn thảo cũng cần có sự phối hợp và thống nhất với các bộ ngành liên quan đế tránh sự chồng chéo, khó xử lý khi luật đi vào cuộc sống.
Việc xây dựng Luật Dân số cũng cần tránh sử dụng các khái niệm khó hiểu nhưng không giải thích. Chẳng hạn như: Nhân bản vô tính người; Quy mô dân số phù hợp; Cơ cấu dân số hợp lý; Phân bố dân cư hợp lý… được cho là những khái niệm khó đi vào thực tiễn. Gs Nguyễn Đình Cử dẫn chứng, tại Nhật Bản, Singapore “đất chật, người đông” hơn rất nhiều so với mật độ dân cư tại nước ta, song họ vẫn là đất nước phát triển mạnh. Vậy ở đây cần tính đến việc đề xuất những chính sách kinh tế, xã hội phù hợp với đặc điểm dân số. Ngoài ra, thực tiễn có những vấn đề phát sinh theo kiểu bất khả kháng như già hóa cũng là vấn đề cần có những chính sách mang tính chiến lược phù hợp với đặc điểm này.
Ngoài ra, có ý kiến cho rằng, dự thảo Luật Dân số cần điều chỉnh những điều có tính “bất khả thi” như Điều 17 quy định về phân bố dân cư nông thôn. Theo đó có nhắc đến việc thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng để hạn chế động lực di dân ra đô thị. Bởi ở nước ta, hệ số thu nhập chênh lệch bình quân đầu người của nhóm 20% giàu nhất so với nhóm 20% thấp nhất ngày một tăng cao. Năm 1990 là 4,1 lần thì hiện tại khoảng 8,6 lần. Và trên thế giới điều này cũng diễn ra tương tự và cũng được coi là bất khả kháng. Đặc biệt, Dự án Luật Dân số cần nhấn mạnh đến vai trò truyền thông dân số… đây là một hoạt động phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, tác động trực tiếp đến nhận thức và ý thức của mọi người dân về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình…


