Tạo hành lang pháp lý cho việc ký điện tử thỏa thuận quốc tế
Sáng 20/10, thảo luận tại Tổ 7 gồm Đoàn ĐBQH TP. Bắc Ninh và tỉnh Lâm Đồng, các đại biểu đánh giá cao dự thảo Luật Thoả thuận quốc tế (sửa đổi) đã quy định về việc ký điện tử thỏa thuận quốc tế, nhằm rút ngắn thời gian, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế.

Bổ sung vai trò của Đoàn ĐBQH trong giám sát thực hiện thỏa thuận quốc tế
Khoản 1 Điều 5 dự thảo luật quy định Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội giám sát hoạt động ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế.
Tuy nhiên, ĐBQH Trần Thị Vân (Bắc Ninh) lưu ý, dự thảo luật chưa quy định cụ thể về vai trò giám sát của Đoàn ĐBQH, ĐBQH và HĐND cấp tỉnh đối với việc thực hiện thỏa thuận quốc tế tại địa phương.

Để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của pháp luật, nâng cao hiệu quả giám sát việc thực hiện thỏa thuận quốc tế tại địa phương, đại biểu Trần Thị Vân đề nghị ban soạn thảo rà soát, làm rõ mối quan hệ giữa quy định tại Điều 5 với pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND, nhất là vai trò của Đoàn ĐBQH, HĐND cấp tỉnh trong giám sát các nội dung liên quan đến việc thực hiện thỏa thuận quốc tế trên địa bàn. Trên cơ sở đó, nghiên cứu bổ sung quy định hoặc dẫn chiếu cho phù hợp, đảm bảo xác định rõ phạm vi trách nhiệm phối hợp của các chủ thể, tránh chồng chéo trong quá trình thực hiện.

Khoản 1 Điều 8 dự thảo luật quy định việc ký điện tử thỏa thuận quốc tế phải đảm bảo các yêu cầu về an toàn thông tin, an ninh mạng và phù hợp với pháp luật Việt Nam về giao dịch điện tử, lưu trữ, bảo vệ bí mật nhà nước. Tuy nhiên, khoản 2 lại quy định không áp dụng quy định này đối với thỏa thuận quốc tế nhân danh Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ.

Đại biểu Trần Thị Vân cho rằng, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số, việc đẩy mạnh ứng dụng phương thức ký điện tử có thể góp phần rút ngắn thời gian, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế; nhất là trong các bối cảnh quốc tế đặc biệt, như dịch bệnh Covid - 19. Trong thực tế, chúng ta cũng đã từng hội đàm, hội kiến, có rất nhiều hợp tác quốc tế dựa trên điện đàm hoặc điện tử.

Do đó, đại biểu đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu quy định theo hướng cho phép áp dụng hình thức ký điện tử đối với thỏa thuận quốc tế nhân danh Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện về thẩm quyền, xác thực chữ ký, an toàn thông tin, an ninh mạng và các yêu cầu pháp luật có liên quan.
Đồng thời, quy định rõ các trường hợp không áp dụng hoặc phải thực hiện theo quy trình bảo mật đặc thù trên cơ sở tính chất, nội dung của thỏa thuận và yêu cầu bảo vệ lợi ích quốc gia.

Xác định trường hợp được sử dụng chữ ký điện tử
Khẳng định sự cần thiết bổ sung ký điện tử thỏa thuận quốc tế, ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh (Lâm Đồng) nhấn mạnh, việc bổ sung hình thức này là phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính và thực tiễn hợp tác quốc tế đang triển khai. Tuy nhiên, cần làm rõ phạm vi áp dụng và điều kiện pháp lý cần thiết để quy định có thể thực hiện được trong thực tế.

Đại biểu nêu rõ, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, hình thức ký kết các văn bản thỏa thuận bằng hình thức điện tử đã được áp dụng trong một số điều ước quốc tế cụ thể. Cụ thể, năm 2020, New Zealand, Chile và Singapore đã ký Hiệp định Đối tác Kinh tế số (DEPA) bằng hình thức trực tuyến. Đây cũng là lần đầu tiên New Zealand sử dụng chữ ký điện tử để ký một điều ước quốc tế; Singapore tiếp tục sử dụng hình thức này để ký Hiệp định Kinh tế số Singapore - Australia.

Thực tiễn Liên Hợp Quốc cũng ghi nhận phương thức ký điện tử giúp các bên hoàn tất việc ký kết trong thời gian thực, giảm chi phí và những trở ngại do tổ chức ký kết trực tiếp.
Qua nghiên cứu các trường hợp nêu trên, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh lưu ý, việc sử dụng chữ ký điện tử gắn với sự thống nhất giữa các bên và đặc điểm của từng văn kiện, chứ không phải mọi thỏa thuận quốc tế đều mặc nhiên có thể ký được bằng phương thức điện tử.

Vì vậy, đại biểu đề nghị, dự thảo luật cần làm rõ theo hướng xác định trường hợp được sử dụng chữ ký điện tử, điều kiện áp dụng và yêu cầu có sự chấp thuận của các bên ký kết nước ngoài.

Đối với chữ ký điện tử của ký kết nước ngoài, cần làm rõ cơ sở công nhận, phương thức xác minh và yêu cầu lưu trữ văn bản điện tử, bảo đảm có thể kiểm tra tính xác thực, tính toàn vẹn và thời gian ký kết khi cần thiết. Nội dung này cần được rà soát đồng bộ với Luật Giao dịch điện tử và các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, an toàn thông tin, nhất là trong quá trình đàm phán, ký kết các văn bản có nội dung mật. Do vậy, cần quy định rõ nguyên tắc ngay trong luật, đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết về tiêu chí kỹ thuật và quy trình thực hiện.


“Cách tiếp cận này vừa tạo cơ sở pháp lý cho việc sử dụng chữ ký điện tử, vừa tránh việc đưa các yêu cầu kỹ thuật có thể thay đổi nhanh vào luật gây phát sinh thủ tục không cần thiết đối với các bên”, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh nhấn mạnh.

