Tăng điều kiện khi ban hành văn bản pháp luật trong trường hợp khẩn cấp
Thảo luận tại Tổ 8 gồm Đoàn ĐBQH TP. Cần Thơ và tỉnh Sơn La về dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật, các ĐBQH đề nghị làm rõ điều kiện thí điểm chính sách, siết chặt điều kiện ban hành văn bản trong tình huống khẩn cấp, cấp bách.
Cải cách quy trình lập pháp, tăng cường trách nhiệm ban hành
Các đại biểu ghi nhận dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật có nhiều đổi mới trong tinh gọn hình thức văn bản, cải cách quy trình lập pháp và tăng cường trách nhiệm thi hành.
.jpg)
Về văn bản quy phạm pháp luật quy định thí điểm chính sách tại Điều 20, dự thảo quy định phạm vi, nguyên tắc, thời hạn thí điểm không quá 5 năm, được gia hạn một lần không quá 5 năm; đồng thời giới hạn các lĩnh vực chính quyền địa phương không được thí điểm, gồm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, quốc gia, tôn giáo và các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của công dân, ĐBQH Lê Thị Thanh Lam (TP. Cần Thơ) cho rằng, dù việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thí điểm chính sách đã được triển khai ở nhiều cấp nhưng vẫn còn thiếu quy định khung thống nhất về quản trị rủi ro, kiểm soát quyền lực và cơ chế miễn trừ trách nhiệm đối với người thi hành khi xảy ra rủi ro khách quan.
Do đó, đại biểu đề nghị quy định cụ thể hơn nguyên tắc, điều kiện miễn trừ trách nhiệm tại điểm a khoản 1 Điều 20, tạo cơ sở để cán bộ, cơ quan thực hiện yên tâm, tránh tâm lý e ngại rủi ro. Cùng với đó, cần xác định rõ tiêu chí đánh giá, sơ kết, tổng kết quá trình thí điểm, làm căn cứ quyết định luật hóa chính sách hoặc chấm dứt thí điểm, tránh tình trạng kéo dài vô thời hạn.

Bên cạnh đó, dự thảo đang phân định Quốc hội ban hành luật quy định chính sách dân tộc (Khoản 6 Điều 11); Chính phủ ban hành nghị định quy định các biện pháp thực hiện chính sách dân tộc (Khoản 2 Điều 14); chính quyền địa phương ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định thí điểm chính sách (Điểm b Khoản 1 Điều 20). Theo ĐBQH Quàng Văn Hương (Sơn La), văn bản hướng dẫn thi hành luật này phải phân định rõ nội dung nào thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội, nội dung nào do Chính phủ cụ thể hóa bằng các biện pháp thực hiện và nội dung nào địa phương được phép thí điểm.

Theo đại biểu, khi khái niệm “chính sách dân tộc” chưa rõ ràng, việc phân cấp cho địa phương sẽ gặp nhiều khó khăn. Phân tích thêm, đại biểu Quàng Văn Hương cho rằng, quy định tại Điều 20 có thể được hiểu là cho phép chính quyền địa phương ban hành văn bản thí điểm chính sách trong lĩnh vực dân tộc. Tuy nhiên, khái niệm “chính sách dân tộc” được giải thích trong một văn bản do Ủy ban Dân tộc ban hành từ năm 1995 còn tương đối trừu tượng. Nghị định số 05-NĐ/CP của Chính phủ cũng không giải thích khái niệm này mà chỉ giải thích “công tác dân tộc”. Vì vậy, hiện có nhiều cách hiểu khác nhau về chính sách dân tộc.
Từ thực tế đó, đại biểu đề nghị bổ sung lĩnh vực dân tộc vào danh mục những lĩnh vực chính quyền địa phương không được ban hành văn bản thí điểm chính sách. Sau khi rút kinh nghiệm từ một số địa phương, nếu thấy đủ điều kiện phân cấp thì mới quy định cụ thể phạm vi, mức độ phân cấp.
Sớm ban hành bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản sau ban hành
Bên cạnh cơ chế thí điểm chính sách, các đại biểu tập trung phân tích quy định về ban hành văn bản trong trường hợp khẩn cấp, cấp bách.
Theo các Điều 48, 49, 50 và 51 của dự thảo, trong trường hợp này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội được ban hành pháp lệnh, Chính phủ ban hành nghị định để điều chỉnh quy định của luật, với thời hạn hiệu lực không quá một năm.
Đại biểu Lê Thị Thanh Lam nhận định, thực tiễn triển khai Nghị quyết số 206/2025/QH15 cho thấy việc xử lý nhanh các vướng mắc pháp lý cấp bách là cần thiết. Tuy nhiên, cho phép văn bản dưới luật như nghị định hoặc pháp lệnh điều chỉnh quy định của luật là vấn đề lớn, liên quan trực tiếp đến thẩm quyền lập pháp hiến định của Quốc hội. Vì vậy, các điều kiện áp dụng cơ chế này cần được siết chặt tối đa.
Đại biểu đề nghị phải có sự đồng ý của cấp có thẩm quyền và văn bản xác nhận chính thức của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc “Quốc hội không thể họp được”. Đồng thời, ngay tại kỳ họp gần nhất, Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ phải báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định việc ban hành luật thay thế hoặc chấm dứt hiệu lực của pháp lệnh, nghị định đã ban hành. Không nên để văn bản kéo dài hết thời hạn một năm nếu Quốc hội đã họp trở lại.
.jpg)
Cùng quan tâm đến vấn đề này, ĐBQH Lê Minh Nam (TP. Cần Thơ) cho rằng, để đạt mục tiêu chung vì lợi ích quốc gia, dân tộc, có thể vận dụng linh hoạt cơ chế phân công, như cách các cơ chế thí điểm thời gian qua đã góp phần giải quyết nhiều vấn đề thực tiễn về phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, sự linh hoạt phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản. Mặt khác, Điều 47 của dự thảo đã quy định về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong các trường hợp đặc biệt. Do đó, đại biểu Lê Minh Nam đề nghị phải khoanh định thật rõ mức độ khẩn cấp, cấp bách và tính chất đặc biệt của tình huống làm căn cứ áp dụng quy định riêng, tránh chồng chéo trong hệ thống pháp luật.
.jpg)
Về ban hành văn bản trong trường hợp khẩn cấp, cấp bách khi Quốc hội không thể họp, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng nhấn mạnh, đây là vấn đề đã được nêu trong Đề án để trình Bộ Chính trị xem xét để ban hành Kết luận số 09-KL/TW; trong đó đã nghiên cứu, lý giải rất rõ những vấn đề cả về lý luận và thực tiễn cho thấy sự phù hợp của chủ trương này. Do đó, phải đưa vào luật để thể chế hóa.
Theo Bộ trưởng, đây là một cơ chế mang tính chất ủy quyền lập pháp đặc biệt và tạm thời để phản ứng chính sách kịp thời, trong bối cảnh và hoàn cảnh đặc biệt. Các văn bản này chỉ được ban hành trong những tình huống đặc biệt gắn với bối cảnh và điều kiện rất cụ thể được quy định tại Điều 48 của dự thảo Luật.
Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng cũng cho biết, đây không phải cơ chế mới, thực tế đã được trải nghiệm qua thực tiễn. Trong đó, Nghị quyết số 206/2025/QH15 về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật đã cho phép Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ ban hành nghị quyết để điều chỉnh những quy định của luật nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, kịp thời xử lý, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật.
.jpg)


Kết quả thực hiện hơn 1 năm thực hiện Nghị quyết số 206 cho thấy hiệu quả rất tích cực, góp phần xử lý những “điểm nghẽn” trong thời gian vừa qua; góp phần đem lại kết quả như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nhận định là thể chế không còn là điểm nghẽn.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp cũng nhấn mạnh, trước bối cảnh phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, trong khi Việt Nam có nền kinh tế có độ mở lớn và mức độ hội nhập quốc tế cao, việc quy định như vậy sẽ là một giải pháp để phản ứng chính sách kịp thời nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Theo Bộ trưởng, cơ quan chủ trì soạn thảo sẽ tiếp thu ý kiến các đại biểu nêu, nghiên cứu hoàn thiện quy định về điều kiện ban hành hình thức văn bản quy phạm pháp luật này để bảo đảm chặt chẽ.

