Tài năng đất Việt và Cố Cung Trung Quốc

29/01/2007 00:00

Cố Cung, vốn có tên là Tử Cấm Thành, tọa lạc ở trung tâm thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc. Đây là quần thể kiến trúc cổ lớn và hoàn chỉnh nhất của nước Trung Quốc. Từ niên hiệu Vĩnh Lạc (15) của triều Minh (1417), Vua Minh Thành Tổ bắt đầu cho xây dựng Cố Cung, đến năm Vĩnh Lạc 18 (1420) thì hoàn thành bước đầu. Đến năm Vĩnh Lạc 19 (1421), Vua Minh bắt đầu tiến hành kế hoạch di chuyển thủ đô từ Nam Kinh, tức Kim Lăng lên Bắc Kinh. Và, việc xây dựng Cố Cung từ đó được tiếp tục xây dựng với quy mô vô cùng to lớn, kéo dài nhiều năm, tạo nên một quần thể các cung điện, lầu tạ to lớn, nguy nga.

      Trở thành một cung điện vĩ đại, Cố Cung từ đó trở đi là Hoàng cung của hai triều đại Minh (1368 – 1644) và Thanh (1645 – 1911), đã có 20 vị vua của hai triều đại đó ngự trị ở đây. Cho đến nay, Cố Cung đã trải qua gần 6 thế kỷ với bao biến động lịch sử, cũng qua nhiều lần trùng tu, mở rộng thêm, nhưng cơ bản Cố Cung vẫn giữ được bố cục, kết cấu ban đầu. Cố Cung có diện tích tổng thể hơn 720.000m2, diện tích kiến trúc chừng 150.000m2 với hơn 9.000 phòng, có tường thành bao quanh đến 3 km. ở 4 góc thành được xây dựng các lầu thành cao vút, rất đẹp. Phía ngoài tường thành có dòng sông bảo vệ thành rộng 52m bao quanh. Cấu trúc Cố Cung gồm hai phần: Ngoại triều và Nội đình. Ngoại triều là khu vực Hoàng đế tổ chức các đại lễ, có 3 tòa điện lớn là Thái Hòa, Trung Hòa, Bảo Hòa, cùng hai điện Văn Hoa và Vũ Anh ở hai bên. Khu Nội đình là nơi Hoàng đế coi việc chính sự hàng ngày; nơi thờ phụng; nơi ở của các Hoàng hậu, Phi tần và các hoàng tử; nơi vui chơi thưởng ngoạn của Hoàng đế cùng tôn thất. Trong khu Nội đình có cung Càn Thanh, điện Giao Thái, cung Khôn Ninh và Lục Cung ở mé Đông, mé Tây... Cố Cung thật hào hoa tráng lệ, thật hùng vĩ, là niềm tự hào của nghệ thuật kiến trúc cổ Trung Quốc. Và, thật đặc biệt trong thành tựu tuyệt vời xây dựng nên Cố Cung có sự đóng góp thật to lớn của một kiến trúc sư người Việt Nam là Nguyễn An. Ông là một nhân vật sống vào thế kỷ XV, sử sách Việt Nam còn nhắc đến rất ít.
      Lịch sử nước ta có những năm thật đau thương. ấy là những năm đầu thế kỷ XV bị nhà Minh sang xâm lược. Viên tướng Trương Phụ khi chiếm đất Việt đã thực thi cuộc hủy diệt văn hóa Việt Nam, như đốt sách, đập phá bia đá, chuông đồng, lấy không ít những thư tịch sách vở của nước Việt Nam đem về Kim Lăng. Chúng còn lựa chọn nhiều mỹ nữ, người tài và trẻ em Việt Nam bắt đưa về Kim Lăng... Do những hạn chế đương thời, các tác giả Đại Việt sử ký toàn thư chỉ ghi được những dòng đại lược, nay đọc lại thấy thật đau lòng. Việc xảy ra tháng 12 năm Bính Tuất (1406): “Người Minh vào Đông Đô bắt cướp con gái, ngọc lụa... Chúng thiến hoạn nhiều con trai nhỏ tuổi và thu lấy tiền đồng ở các xứ, cho chạy trạm đưa về Kim Lăng...”. Việc xảy ra tháng 7 năm Đinh Hợi (1407): “Người Minh lùng tìm những người ẩn dật rừng núi, có tài đức, thông minh, giỏi giang xuất chúng... lục tục đưa dần về Kim Lăng...”. Trong số những con trai nhỏ tuổi bị thiến hoạn, hoặc trong những người thông minh giỏi giang bị bắt đưa về Kim Lăng có Nguyễn An, mà một số thư tịch của Trung Quốc đời Minh và đời Thanh sau này đã ca ngợi như một tổng công trình sư tài ba góp phần đắc lực để xây dựng Cố Cung và thành Bắc Kinh. Một số thư tịch của Trung Quốc trong đó có sách Minh Hiến Tông thực lục ghi rõ: có 2 người Giao Chỉ (tên người Minh gọi nước ta khi đó) cùng tên Nguyễn An. Một người là thợ, sau làm quan tới chức Phó sứ Văn tư uyển, tới năm Thành Hóa thứ 20 đời Minh Hiến Tông (1484) ông này vẫn còn sống. Người thứ hai là thái giám Nguyễn An, còn có tên là A Lưu, chính là công trình sư đã xây dựng Cố Cung đời Minh Thành Tổ. Sách Minh Anh Tông Chính thống thực lục có chép về Nguyễn An này: người Giao Chỉ, tính tình mẫn tiệp, liêm khiết, nhiều tài năng, rất giỏi trong việc kiến trúc xây dựng. Trước khi Minh Thành Tổ di chuyển thủ đô từ Nam Kinh lên Bắc Kinh, Nguyễn An khi đó chừng gần 30 tuổi, theo lệnh Thành Tổ đã thiết kế sơ thảo toàn bộ cung thất, điện, đài, thành hào, cửu môn, lưỡng cung, tam điện, ngũ phủ, lục bộ, cùng các công thự của bách quan trong Cố Cung. Nguyễn An trực tiếp tính toán ước lượng, lên kế hoạch xây dựng. Bộ Công và các cơ quan trực thuộc chỉ thực hiện mà thôi.
      Trong sách Minh Tông Chính thống thực lục chép rõ: “... An có tài nghệ, giỏi mưu mẹo tính toán, càng giỏi về xây dựng thổ mộc. Theo lệnh của Thành Tổ, tạo dựng thành trì, triều miếu, cung điện Bắc Kinh cùng phủ thự trăm ty, ngàn cửa muôn nhà, mắt đo ý định, thân hành thiết kế, tự tay vạch vẽ. Các thị lang Bộ Công chỉ việc làm theo những gì đã được định sẵn mà thôi...”. Cũng trong sách Minh Tông Chính thống thực lục có ghi nhiều việc nữa mà Nguyễn An đã làm cho Bắc Kinh: năm Chính Thống thứ 2 (1437), An được lệnh xây dựng lầu thành 9 cửa của Kinh sư, đến năm Chính Thống thứ 4 (1439) thì hoàn thành. Đợt xây dựng này viên Thượng thư Bộ Công là Sái Tín cho rằng phải có 18 vạn người mới làm nổi khối lượng công việc, nhưng Nguyễn An chỉ huy có hơn một vạn lính thợ và đã làm xong lầu chính, lầu nguyệt, thành, hào, cầu, chín cửa: Chính Dương, Sùng Văn, Tuyên Vũ, Chiêu Dương, Phu Thành, Đông Trực, Tây Trực, An Định và Đức Thắng. Đó chính là tiền thân của nội thành Bắc Kinh ngày nay. Vào những năm cuối niên hiệu Vĩnh Lạc, ở Bắc Kinh có hỏa hoạn lớn, ba điện lớn và Cung Càn Thanh đã bị cháy. Đến tháng 3 năm Chính Thống thứ 5 (1440), Minh Anh Tông lại giao cho Nguyễn An chỉ huy 7 vạn sỹ quan, lính thợ tiến hành trùng tu lớn Cố Cung. Đến tháng 10 năm Chính Thống thứ 6 (1441) thì ba điện Phụng Thiên, Hoa Cái, Cẩn Thân và hai cung Càn Thanh, Khôn Ninh hoàn thành. Cho đến khi đó, tường thành Bắc Kinh vốn bên ngoài xây gạch, bên trong đắp đất nên cứ mưa là sụt lở, nên tháng 10 năm Chính Thống thứ 10 (1446), Minh Anh Tông lại giao cho Nguyễn An chỉ huy xây tường gạch. Đó chính là nội thành Bắc Kinh ngày nay! Như vậy, đủ thấy Nguyễn An đã có đóng góp rất quan trọng trong việc kiến tạo Bắc Kinh. Ngoài ra, Nguyễn An cũng có tài trị thủy. Minh sử có ghi việc Nguyễn An được giao việc trị thủy các sông Tắc Dương, Thôn Dịch, việc năm Chính Thống thứ 14 (1449) Nguyễn An đi tuần tra đường thủy từ Thông Châu đến Nam Kinh. Khi đó, sông Trương Thu ở Sơn Đông cứ vỡ đê mãi, tu sửa nhiều mà không ổn. Vào đời Cảnh Thái (1450 – 1457), Nguyễn An được lệnh đến trị thủy sông Trương Thu, thương tiếc thay, ông mất ở dọc đường, khi đó ông chừng 65 tuổi.
      Từ đó đến nay, nhiều thế kỷ trôi qua, Cố Cung thành niềm tự hào của kiến trúc cổ truyền Trung Quốc, là tinh hoa của văn hóa Trung Quốc. Người đời không quên Nguyễn An, các học giả Trung Quốc đã ghi nhận Nguyễn An là một công trình sư tài ba xuất chúng. Học giả Trương Tú Dân, tốt nghiệp Đại học Hạ Môn năm 1931 làm việc nhiều năm ở thư viện Bắc Kinh, đã nỗ lực nhiều năm nghiên cứu về Nguyễn An, viết nhiều bài về Nguyễn An, tiêu biểu là bài: Nguyễn An, một nhà kiến trúc thiên tài Việt Nam và bài Khảo cứu về Nguyễn An người Giao chỉ, Thái giám nhà Minh, tạo dựng Bắc Kinh. Học giả Trương Tú Dân viết khá cụ thể về Nguyễn An, chúng tôi trích nêu để bạn đọc tham khảo: “Nguyễn An – A Lưu đến Trung Quốc vào năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407), là một trong số trẻ em trai mỹ tú của Giao Chỉ do Trương Phụ đưa về Nam Kinh để hoạn...” và Trương Tú Dân khẳng định: “... Như vậy, đời Minh việc xây dựng Bắc Kinh đời Vĩnh Lạc là thời kỳ mở mang, quy chế còn khuyết lược, đến đời Chính Thống là thời kỳ hoàn thành. Trước sau chủ trì công việc từ đầu đến cuối đều là Nguyễn An, người cống hiến trọn đời cho Bắc Kinh”. Và rồi, học giả Trương Tú Dân từ năm 1947, khi Bắc Kinh còn có tên là Bắc Bình, đã viết trên tờ ích thế báo: “... Tôi nghĩ, với An không chỉ riêng giới công trình sư đáng ngưỡng mộ mà 1 triệu 60 vạn thị dân Bắc Bình cũng nên uống nước nhớ nguồn, kỷ niệm, chớ quên!”.

Anh Chi

    Nổi bật
        Mới nhất
        Tài năng đất Việt và Cố Cung Trung Quốc
        • Mặc định