“Sợ trách nhiệm” - lực cản tinh thần hành động và động lực phát triển: Bài 4: Thể chế phải mở đường cho hành động
Khắc phục tình trạng “sợ sai”, “sợ trách nhiệm” không chỉ là câu chuyện của công tác cán bộ mà còn là yêu cầu hoàn thiện thể chế. Khi thể chế thực sự trở thành động lực phát triển, tinh thần hành động sẽ được khơi dậy, những nguồn lực đang bị kìm hãm sẽ được giải phóng và khát vọng phát triển đất nước sẽ có thêm điều kiện để trở thành hiện thực.
.jpg)
Khi nỗi sợ không chỉ bắt nguồn từ cá nhân
Quá trình thảo luận về hiện tượng ““sợ sai”, “sợ trách nhiệm””, một cách nhìn đơn giản thường quy toàn bộ nguyên nhân cho yếu tố con người. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy không phải mọi biểu hiện e dè, né tránh trách nhiệm đều bắt nguồn từ sự thiếu bản lĩnh hay tinh thần cống hiến của đội ngũ cán bộ.
Như đã phân tích ở những bài trước, không ít lĩnh vực, tâm lý phòng thủ còn xuất phát từ những bất cập của môi trường thể chế. Những quy định chồng chéo, thiếu thống nhất hoặc còn khoảng trống pháp lý dễ tạo ra trạng thái lúng túng trong quá trình thực thi công vụ. Khi ranh giới giữa đúng và sai chưa được xác định rõ, giữa trách nhiệm và thẩm quyền chưa thực sự tương xứng, người thực thi rất dễ lựa chọn giải pháp an toàn thay vì chủ động quyết định.
Những năm gần đây, nhiều khó khăn trong giải ngân đầu tư công, triển khai các dự án hạ tầng trọng điểm, xử lý các dự án tồn đọng hoặc thực hiện các chương trình chuyển đổi số đều cho thấy tác động của các “điểm nghẽn” thể chế. Trong một số trường hợp, vấn đề không nằm ở việc thiếu quyết tâm chính trị hay nguồn lực phát triển mà nằm ở sự thiếu đồng bộ giữa các quy định pháp luật liên quan đến đầu tư, đất đai, quy hoạch, đấu thầu hoặc quản lý tài sản công.
Một môi trường pháp lý thiếu rõ ràng không chỉ làm gia tăng chi phí tuân thủ mà còn làm gia tăng tâm lý phòng thủ trong hoạt động công vụ. Khi cán bộ không chắc chắn về giới hạn trách nhiệm của mình hoặc không có đủ cơ sở pháp lý để đưa ra quyết định, sự chậm trễ gần như trở thành phản ứng tự nhiên.
Nhìn từ góc độ này, khắc phục tình trạng “sợ sai”, “sợ trách nhiệm” không chỉ là câu chuyện của công tác cán bộ mà còn là yêu cầu hoàn thiện thể chế. Muốn khơi dậy tinh thần hành động, trước hết phải tháo gỡ những rào cản đang làm suy giảm động lực hành động.
Thể chế phát triển tạo niềm tin cho người thực thi
Một nền hành chính hiện đại không chỉ cần những cán bộ có năng lực mà còn cần một môi trường thể chế giúp năng lực ấy được phát huy hiệu quả. Muốn cán bộ dám làm, trước hết họ phải biết mình được làm gì, phải chịu trách nhiệm đến đâu và được bảo vệ như thế nào khi thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ được giao. Nói cách khác, niềm tin hành động không thể chỉ được xây dựng bằng những lời kêu gọi tinh thần trách nhiệm mà phải được bảo đảm bằng các quy định pháp luật minh bạch, ổn định và khả thi.
Đây không chỉ là yêu cầu phát triển kinh tế mà còn là điều kiện quan trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định: “Tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, trọng tâm là hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các nút thắt, điểm nghẽn…” là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và đột phá chiến lược (1).
Để hiện thực hóa đột phá chiến lược này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu tập trung giải quyết những vấn đề mang tính chiến lược, liên ngành và tháo gỡ dứt điểm các điểm nghẽn lớn trong quá trình thực hiện chủ trương của Đảng. Đây là những nhiệm vụ trọng tâm đòi hỏi sự chỉ đạo thống nhất, quyết liệt từ Trung ương nhằm tạo đột phá mạnh mẽ trong công tác hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật. Tổng Bí thư nhấn mạnh: “tiếp tục nâng cao chất lượng hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và hoạt động của các cơ quan tư pháp. Pháp luật phải rõ ràng, ổn định, khả thi, minh bạch, dễ thực hiện, dễ kiểm tra, dễ giám sát” (2).
Một thể chế tốt không chỉ kiểm soát quyền lực mà còn phải tạo động lực cho sự phát triển. Thể chế ấy phải giúp người thực thi nhận diện rõ quyền hạn, trách nhiệm và giới hạn pháp lý của mình; đồng thời, tạo ra môi trường thuận lợi để các sáng kiến, giải pháp đổi mới được xem xét và triển khai trên cơ sở pháp luật.
Nền tảng thúc đẩy động lực hành động
Thực tiễn trong nước và quốc tế cho thấy, những địa phương, quốc gia đạt kết quả nổi bật trong cải cách hành chính và phát triển kinh tế - xã hội thường có một điểm chung: xây dựng được môi trường thể chế minh bạch, trách nhiệm rõ ràng và khuyến khích đổi mới trong khuôn khổ pháp luật.

Tại Việt Nam, Quảng Ninh là một trong những địa phương đi đầu trong cải cách hành chính và cải thiện môi trường đầu tư. Việc xây dựng Trung tâm Phục vụ hành chính công, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và thực hiện cơ chế “một cửa” đã góp phần rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp. Thành công của Quảng Ninh không chỉ đến từ nguồn lực đầu tư mà còn từ quyết tâm cải cách thể chế và đổi mới phương thức quản trị.
Đà Nẵng cũng là địa phương có nhiều kinh nghiệm đáng chú ý trong xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số và nền hành chính phục vụ. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, công khai quy trình xử lý công việc và tăng cường trách nhiệm giải trình đã góp phần nâng cao tính minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ chủ động hơn trong thực hiện nhiệm vụ.
Trên thế giới, Singapore được xem là một trong những hình mẫu thành công về xây dựng nền công vụ hiệu quả. Hệ thống pháp luật minh bạch, trách nhiệm cá nhân được xác định rõ ràng, cơ chế đánh giá dựa trên kết quả và năng lực thực thi đã tạo nên một bộ máy có khả năng phản ứng nhanh trước các yêu cầu phát triển. Điều đáng chú ý là Singapore không chỉ chú trọng kiểm soát quyền lực mà còn đặc biệt quan tâm đến việc tạo điều kiện để đội ngũ công chức phát huy sáng kiến và năng lực hành động.
Hàn Quốc cũng là một ví dụ tiêu biểu về cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số. Việc chuẩn hóa quy trình, số hóa dịch vụ công và minh bạch hóa hoạt động quản lý nhà nước đã giúp giảm đáng kể các khâu trung gian, nâng cao hiệu quả giải quyết công việc và tăng cường trách nhiệm giải trình của bộ máy công quyền.
Nhật Bản với đặc trưng của mô hình công vụ dựa trên nền tảng tuyển dụng khắt khe, luân chuyển đa năng và tinh thần cống hiến suốt đời, tạo dựng một bộ máy hành chính chuyên nghiệp, liêm chính, có độ ổn định vượt trội. Bản sắc của hệ thống này nằm ở văn hóa trách nhiệm nghiêm cẩn và tư duy phụng sự xã hội tuyệt đối, lấy người dân là trung tâm. Đơn cử chỉ với sự cố chậm chuyến 35 giây, các công chức ngành đường sắt công khai cúi đầu xin lỗi và cấp giấy xác nhận trễ giờ cho từng hành khách.
Khi trách nhiệm được xác định rõ ràng, quyền hạn được trao phù hợp và cơ chế giám sát được vận hành hiệu quả, động lực hành động sẽ được khơi dậy mạnh mẽ trong toàn bộ hệ thống.
Phân cấp, phân quyền để rút ngắn khoảng cách quyết định
Cùng với hoàn thiện thể chế, phân cấp, phân quyền là một trong những giải pháp quan trọng nâng cao hiệu quả quản trị và khơi dậy tinh thần chủ động của bộ máy.
Một nền hành chính hiện đại khó có thể vận hành hiệu quả nếu mọi quyết định đều phải đi qua quá nhiều tầng nấc trung gian. Khi thẩm quyền tập trung ở một số khâu, trong khi trách nhiệm lại bị phân tán giữa nhiều cơ quan, quá trình xử lý công việc không chỉ trở nên chậm chạp mà còn dễ phát sinh tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm.
Bối cảnh đó, việc chuyển đổi từ mô hình chính quyền địa phương 3 cấp sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp là một bước cải cách có ý nghĩa chiến lược, thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước trong xây dựng bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Việc giảm bớt một cấp trung gian không đơn thuần là sắp xếp lại tổ chức bộ máy hay cắt giảm đầu mối quản lý, mà quan trọng hơn là rút ngắn khoảng cách giữa quyết định quản lý với thực tiễn đời sống.
Tuy nhiên, tinh gọn bộ máy mới chỉ là điều kiện cần. Để mô hình chính quyền địa phương 2 cấp thực sự phát huy hiệu quả, điều quan trọng hơn là phải đổi mới tư duy quản trị theo hướng phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế giải trình. Phân cấp, phân quyền không chỉ là chuyển giao công việc từ cấp trên xuống cấp dưới, mà cốt lõi là trao đúng quyền, giao đúng trách nhiệm và xác lập rõ cơ chế kiểm soát quyền lực.
Chỉ khi mỗi cấp chính quyền biết rõ mình được quyết định những gì, chịu trách nhiệm đến đâu và được bảo đảm những điều kiện cần thiết để thực thi nhiệm vụ, bộ máy mới có thể vận hành thông suốt, khắc phục tình trạng chờ đợi, né tránh và tạo động lực cho tinh thần chủ động, sáng tạo trong thực thi công vụ.
Phân cấp không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý. Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII đã nhấn mạnh: “yêu cầu phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực” (3). Đây là điều kiện để vừa phát huy tính chủ động, sáng tạo, vừa bảo đảm sự thống nhất và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Khơi thông động lực phát triển
Khơi thông động lực phát triển không chỉ là câu chuyện của nguồn vốn, khoa học - công nghệ hay chất lượng nguồn nhân lực, mà trước hết là câu chuyện của thể chế. Một thể chế tiến bộ, hiện đại và kiến tạo phát triển chính là nền tảng để giải phóng sức sản xuất, khơi dậy khát vọng cống hiến, phát huy tối đa nguồn lực con người và sức sáng tạo của toàn xã hội.
Thể chế không thể thay thế vai trò của con người, nhưng thể chế có khả năng tạo dựng hoặc làm suy giảm động lực hành động. Khi quyền hạn và trách nhiệm được xác định minh bạch, khi các “vùng xám” pháp lý từng bước được thu hẹp, khi những người dám hành động vì lợi ích chung được bảo vệ bằng các cơ chế công bằng, nhất quán và khả thi, tâm lý e dè sẽ dần được thay thế bằng tinh thần trách nhiệm, còn sự thận trọng quá mức sẽ nhường chỗ cho tư duy chủ động, sáng tạo và quyết đoán trong thực thi công vụ.
Trong hành trình hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, đội ngũ cán bộ, công chức với bản lĩnh dấn thân, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung sẽ là lực lượng tiên phong đưa các chủ trương, đường lối của Đảng vào cuộc sống, chuyển hóa khát vọng phát triển thành những thành quả cụ thể trong thực tiễn.
Để phát triển nhanh và bền vững, đất nước không chỉ cần những chủ trương đúng mà còn cần một đội ngũ cán bộ đủ bản lĩnh để hành động, đủ năng lực để tổ chức thực hiện và đủ trách nhiệm để đưa chủ trương vào cuộc sống. Đó cũng là lý do vì sao yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung đang trở thành đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn phát triển hiện nay.
Chú thích
(1) Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t.1, tr.143.
(2) Phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị tổng kết hoạt động của Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương ngày 11/6/2026.
(3) Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
(4) Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.

