Số hóa toàn bộ quy trình quản lý khuyến công
Bộ Công Thương đang xây dựng thông tư mới về quản lý kinh phí khuyến công quốc gia, trong đó đề xuất số hóa toàn bộ quy trình từ đăng ký, thẩm định đến theo dõi thực hiện đề án. Nhiều địa phương đánh giá cao hướng đổi mới này, đồng thời kiến nghị làm rõ các quy định để bảo đảm tính khả thi khi triển khai.
Số hóa toàn diện hoạt động khuyến công
Bộ Công Thương đang xây dựng dự thảo Thông tư quy định về xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và quản lý kinh phí khuyến công quốc gia, thay thế một số thông tư hiện hành nhằm bảo đảm đồng bộ với Nghị định số 235/2025/NĐ-CP và đáp ứng yêu cầu quản lý trong giai đoạn mới.
Theo bà Đinh Thị Huyền Linh, Trưởng phòng Khuyến công, Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, điểm mới đáng chú ý của dự thảo là xây dựng Hệ thống thông tin quản lý khuyến công. Hệ thống này sẽ số hóa toàn bộ quy trình quản lý đề án khuyến công quốc gia, từ đăng ký, thẩm định, xét chọn, giao kế hoạch đến theo dõi thực hiện, tổng hợp dữ liệu và báo cáo thống kê.
Dự thảo cũng yêu cầu các tổ chức, cá nhân tham gia chương trình khuyến công cập nhật đầy đủ hồ sơ, dữ liệu điện tử lên hệ thống theo quy định.

Về nội dung hỗ trợ, dự thảo phân loại đề án khuyến công quốc gia thành các nhóm như đề án điểm, đề án nhóm và đề án theo đối tượng cụ thể; trong đó, đề án điểm là các dự án quy mô lớn, triển khai từ 2 - 3 năm, tập trung vào những ngành hàng có tiềm năng và lợi thế cạnh tranh của quốc gia, vùng hoặc địa phương.
Các hoạt động khuyến công phải phù hợp với định hướng phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, gắn với mục tiêu chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.
Đáng chú ý, dự thảo bổ sung quy định ưu tiên các cơ sở công nghiệp nông thôn do phụ nữ làm chủ, sử dụng nhiều lao động nữ, lao động yếu thế hoặc lao động là người dân tộc thiểu số khi cùng đáp ứng điều kiện hỗ trợ.
Đối với hoạt động hỗ trợ ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến, dự thảo yêu cầu thiết bị phải mới 100%, chưa qua sử dụng, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Dự thảo cũng bổ sung các quy định về xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật nhằm phổ biến công nghệ mới, sản xuất sản phẩm mới, thúc đẩy sản xuất sạch hơn và phát triển bền vững.
Theo dự thảo, trước ngày 15/10 hàng năm, các Sở Công Thương, Trung tâm Khuyến công quốc gia và các tổ chức dịch vụ khuyến công phải hoàn thành việc cập nhật hồ sơ điện tử đăng ký kế hoạch khuyến công quốc gia lên hệ thống để phục vụ công tác thẩm định.
Nhiều đề xuất nhằm tăng tính khả thi của quy định mới
Đánh giá cao định hướng đổi mới của dự thảo, Phó Giám đốc Sở Công thương Cao Bằng Hà Văn Nam cho rằng việc số hóa toàn bộ quy trình quản lý khuyến công là bước đi cần thiết nhằm nâng cao tính minh bạch và hiệu quả quản lý.
Để chính sách đi vào thực tiễn, ông Nam đề nghị làm rõ khái niệm “công nghệ mới vượt trội” tại Điều 9 và áp dụng tiêu chí linh hoạt hơn đối với khu vực miền núi, biên giới và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Theo ông Nam, tại các địa phương miền núi như Cao Bằng, việc chuyển đổi từ sản xuất thủ công sang bán thủ công hoặc áp dụng công nghệ cải tiến đã là bước tiến đáng kể. Vì vậy, khái niệm công nghệ mới cần được hiểu theo hướng bao gồm cả các công nghệ cải tiến, có tính kế thừa và tạo ra sự gia tăng rõ rệt về năng suất, chất lượng sản phẩm so với hiện trạng địa phương.
Đối với Hệ thống thông tin quản lý khuyến công, Cao Bằng đề nghị Bộ Công Thương ban hành kèm theo hướng dẫn kỹ thuật chi tiết về biểu mẫu điện tử, chuẩn dữ liệu, quy trình cập nhật và vận hành hệ thống; đồng thời xây dựng sổ tay nghiệp vụ điện tử dành cho cán bộ cấp xã để bảo đảm tính khả thi khi triển khai.
Về phân cấp quản lý, Cao Bằng đề xuất quy định theo hướng rõ trách nhiệm, dễ thực hiện và dễ kiểm tra; trong đó làm rõ vai trò của UBND cấp xã trong khảo sát nhu cầu, xác nhận hiện trạng và giám sát các đề án khuyến công. Đây là cấp trực tiếp tiếp xúc với cơ sở công nghiệp nông thôn nhưng hiện vẫn thiếu nhân lực chuyên môn và phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ.
Đại diện Sở Công thương Nghệ An cũng đề xuất làm rõ các khái niệm nền tảng trong dự thảo như “khuyến công”, “công nghiệp nông thôn” và “mô hình trình diễn kỹ thuật”. Hiện nay cách hiểu giữa các địa phương còn khác nhau, gây khó khăn trong triển khai và thẩm định đề án. Đối với mô hình trình diễn kỹ thuật, cần quy định rõ khái niệm, phạm vi và tiêu chí đánh giá; đồng thời tham khảo kinh nghiệm của ngành nông nghiệp để bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng.
Về công tác thẩm định, Sở Công thương Nghệ An cho rằng cần điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn. Thực tế nhiều đề án khi trình thẩm định mới ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, doanh nghiệp chỉ cung cấp được catalogue, tài liệu kỹ thuật hoặc phương án dự kiến. Do đó, việc đánh giá cần căn cứ vào mục tiêu đầu tư, hiệu quả dự kiến và các tiêu chí đầu ra, thay vì chỉ tập trung vào hồ sơ kỹ thuật ban đầu.
Liên quan đến quy định xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật tại cấp xã, Nghệ An đề xuất nghiên cứu theo hướng linh hoạt hơn, có thể xây dựng theo ngành hoặc lĩnh vực sản xuất thay vì giới hạn mỗi xã một mô hình trong năm. Điều này sẽ tạo cơ hội cho nhiều doanh nghiệp tiếp cận chính sách hơn, đặc biệt tại những địa bàn có số lượng cơ sở sản xuất lớn.
Địa phương cũng đề nghị chuẩn hóa các thuật ngữ pháp lý trong hồ sơ như “giấy phép đăng ký kinh doanh” theo đúng quy định của Luật Doanh nghiệp, đồng thời giữ thống nhất thuật ngữ “đơn vị sự nghiệp công lập” để bảo đảm tính pháp lý và phù hợp với hệ thống tổ chức hiện hành của ngành công thương.

