Rút dần hỗ trợ thuế xăng dầu là bước đi phù hợp
Bộ Tài chính đang đề xuất kéo dài một số chính sách giảm thuế xăng dầu đến hết ngày 30/9/2026. Theo TS. LÊ BÁ CHÍ NHÂN, phương án này tương đối hợp lý, cân bằng giữa mục tiêu hỗ trợ nền kinh tế và bảo đảm thu ngân sách.
Cần thiết khôi phục thuế tiêu thụ đặc biệt
- Bộ Tài chính đang đề xuất kéo dài một số chính sách giảm thuế xăng dầu đến hết ngày 30/9/2026 và khôi phục thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng. Ông đánh giá thế nào về phương án này?

- Hiện nay, giá dầu thế giới đã giảm đáng kể so với giai đoạn đỉnh điểm 2022 - 2024, nhưng thị trường năng lượng toàn cầu vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất định như xung đột địa chính trị tại Trung Đông, chính sách sản lượng của OPEC+, xu hướng bảo hộ thương mại hay nguy cơ gián đoạn chuỗi cung ứng năng lượng.
Trong bối cảnh đó, khôi phục thuế tiêu thụ đặc biệt là bước đi phù hợp khi mặt bằng giá nhiên liệu không còn ở trạng thái khẩn cấp như trước, Đồng thời, tiếp tục duy trì thuế nhập khẩu MFN ở mức 0%, thuế bảo vệ môi trường ở mức 0 đồng và chưa áp dụng thuế giá trị gia tăng sẽ hạn chế tác động tăng giá quá mạnh lên thị trường trong nước. Cách “rút dần" hỗ trợ thay vì “rút đột ngột” như vậy tạo điều kiện để doanh nghiệp và người dân thích nghi với mặt bằng chi phí mới.
- Theo ông, việc duy trì các chính sách hỗ trợ thuế đối với xăng dầu có ý nghĩa như thế nào đối với mục tiêu kiểm soát lạm phát, hỗ trợ sản xuất kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế?
- Xăng dầu là đầu vào của hầu hết ngành kinh tế nên mọi biến động về giá đều có tác động lan tỏa rộng. Khi giá nhiên liệu tăng, chi phí vận tải, logistics, sản xuất và dịch vụ đồng loạt gia tăng, tạo áp lực lên mặt bằng giá. Theo tính toán của Bộ Tài chính, nếu khôi phục toàn bộ các sắc thuế như trước đây, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) có thể tăng thêm khoảng 0,78 điểm phần trăm.
Vì vậy, duy trì một số chính sách hỗ trợ thuế sẽ góp phần hạn chế áp lực tăng giá, ổn định mặt bằng giá cả và hỗ trợ mục tiêu kiểm soát lạm phát. Đồng thời, chính sách này giúp giảm gánh nặng chi phí cho doanh nghiệp, nhất là các ngành sử dụng nhiều nhiên liệu như vận tải, thủy sản, nông nghiệp, xây dựng và sản xuất công nghiệp.
Bên cạnh đó, khi chi phí nhiên liệu được kiểm soát, áp lực chi tiêu của người dân đối với các nhu cầu thiết yếu giảm bớt, qua đó tạo thêm dư địa cho tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ khác. Điều này góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa, kích thích tổng cầu và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Điều chỉnh thuế suất chỉ là giải pháp ngắn hạn
- Việc kéo dài các chính sách giảm thuế chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước. Theo ông, cơ quan quản lý cần lưu ý gì để hài hòa giữa mục tiêu hỗ trợ người dân, doanh nghiệp với yêu cầu bảo đảm cân đối ngân sách và an ninh năng lượng trong dài hạn?
- Cần nhìn nhận rằng khoản giảm thu ngân sách từ các sắc thuế xăng dầu thực chất là một hình thức Nhà nước chia sẻ nguồn lực với doanh nghiệp và người dân để giảm áp lực chi phí. Nếu chính sách này góp phần giữ ổn định lạm phát, thúc đẩy sản xuất, tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế thì một phần nguồn thu ngân sách có thể được bù đắp thông qua sự gia tăng của các sắc thuế khác nhờ quy mô nền kinh tế mở rộng.
Tuy nhiên, đây chỉ nên là giải pháp hỗ trợ có thời hạn. Về trung và dài hạn, cơ quan quản lý cần xây dựng lộ trình khôi phục thuế phù hợp với diễn biến của thị trường năng lượng thế giới cũng như sức chịu đựng của nền kinh tế. Chính sách thuế nên mang tính linh hoạt, có thể điều chỉnh theo các ngưỡng giá dầu nhất định thay vì áp dụng cứng nhắc.
Bên cạnh đó, nguồn lực ngân sách cần được ưu tiên cho các dự án nâng cao năng lực dự trữ xăng dầu quốc gia, phát triển hạ tầng logistics năng lượng và thúc đẩy chuyển đổi sang các nguồn năng lượng sạch. Đồng thời, tiếp tục đa dạng hóa nguồn cung nhập khẩu, nâng cao năng lực các nhà máy lọc hóa dầu trong nước và hoàn thiện cơ chế dự trữ chiến lược. An ninh năng lượng không chỉ là vấn đề giá cả mà còn là khả năng bảo đảm nguồn cung trong mọi tình huống.
- Về dài hạn, Việt Nam cần những giải pháp nào để giảm phụ thuộc vào các biện pháp hỗ trợ thuế mỗi khi thị trường năng lượng thế giới biến động?
- Thuế là công cụ tài khóa, không phải giải pháp căn cơ để xử lý những bất ổn mang tính cấu trúc của thị trường năng lượng. Để ứng phó với các cú sốc bất thường từ bên ngoài, Việt Nam cần tập trung vào bốn nhóm giải pháp.
Thứ nhất, nâng cao mức độ tự chủ về nguồn cung năng lượng thông qua tăng cường năng lực lọc hóa dầu trong nước, đa dạng hóa nguồn nhập khẩu và xây dựng hệ thống dự trữ năng lượng quốc gia đủ lớn.
Thứ hai, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch năng lượng. Cần thúc đẩy phát triển điện gió, điện mặt trời, nhiên liệu sinh học, hydrogen xanh và các công nghệ năng lượng mới nhằm giảm dần sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng của nền kinh tế thông qua đầu tư công nghệ tiết kiệm năng lượng, logistics hiện đại, phương tiện vận tải hiệu suất cao và sản xuất xanh.
Thứ tư, hoàn thiện cơ chế điều hành thị trường năng lượng theo hướng linh hoạt và dự báo tốt hơn, thay vì phụ thuộc vào các biện pháp giảm thuế mang tính tình thế. Cần xây dựng các công cụ điều tiết theo chu kỳ, gắn với biến động giá dầu quốc tế và các chỉ báo kinh tế vĩ mô.
Khi năng lực tự chủ nguồn cung được nâng lên và quá trình chuyển đổi xanh được đẩy mạnh, nhu cầu sử dụng các biện pháp hỗ trợ thuế khẩn cấp sẽ giảm dần, qua đó tạo nền tảng vững chắc hơn cho tăng trưởng bền vững.
- Xin cảm ơn ông!
Phó Chủ tịch Hiệp hội Vận tải ô tô Việt Nam NGUYỄN CÔNG HÙNG: Hỗ trợ thuế cần đi cùng cơ chế khấu trừ hợp lý
.jpg)
Bộ Tài chính đã xây dựng 4 phương án điều hành thuế xăng dầu từ 1/7 - 30/9/2026 trình Chính phủ. Sau khi đánh giá tác động, Bộ nghiêng về phương án 2: kéo dài thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) ở mức 0%, thuế bảo vệ môi trường 0 đồng, không tính thuế giá trị gia tăng, khôi phục áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng (xăng khoáng là 10%, xăng E5 là 8%, xăng E10 là 7%).
Đây là nỗ lực của Chính phủ nhằm tiếp tục hỗ trợ người dân, doanh nghiệp và góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Bên cạnh đó, chúng tôi kiến nghị cơ quan quản lý tiếp tục đánh giá kỹ tác động của chính sách đối với từng nhóm doanh nghiệp để bảo đảm hỗ trợ đúng đối tượng và đạt hiệu quả cao nhất.
Với ngành vận tải, việc giảm các sắc thuế đối với xăng dầu sẽ góp phần hạ chi phí nhiên liệu, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp giảm giá thành và nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, khi thiết kế chính sách cũng cần tính đến tác động đối với cơ chế khấu trừ thuế giá trị gia tăng. Bởi lẽ, trong trường hợp thuế giá trị gia tăng với xăng dầu được giảm hoặc không áp dụng, số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ của doanh nghiệp cũng giảm tương ứng trong khi hoạt động kinh doanh đầu ra vẫn phải thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định. Điều này có thể ảnh hưởng đến dòng tiền và làm giảm hiệu quả hỗ trợ với một số doanh nghiệp, bởi chi phí nhiên liệu hiện chiếm tới 35 - 38% cơ cấu giá thành vận tải.
Vì vậy, chúng tôi mong muốn chính sách thuế được thiết kế theo hướng vừa giảm chi phí xã hội, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp giảm chi phí tuân thủ, nâng cao năng lực cạnh tranh và có thêm nguồn lực đầu tư, phát triển.

