Văn hóa

Rối nước giữ hồn xưa trong nhịp sáng tạo

Thảo Nguyên 19/04/2026 06:55

Trước những biến đổi của đời sống đương đại, nghệ thuật múa rối nước đang từng bước chuyển mình: vừa gìn giữ nét cổ truyền, vừa chủ động đổi mới nội dung, ứng dụng công nghệ để tiếp cận công chúng.

Từ phường rối làng đến sản phẩm công nghiệp văn hóa

Múa rối nước từ lâu đã trở thành một phần văn hóa làng quê Bắc Bộ; ra đời từ hàng nghìn năm trước, múa rối nước đã gắn liền với không gian đình làng, ao làng, với những lễ hội nông nghiệp và sinh hoạt tín ngưỡng dân gian. Mặt nước không chỉ là sân khấu, mà còn là một yếu tố thẩm mỹ đặc biệt, tạo nên vẻ lung linh, huyền ảo cho từng tích trò. Trong không gian ấy, con rối không còn là vật vô tri, mà trở thành hình ảnh thu nhỏ của con người, phản ánh sinh hoạt, ước mơ và cả những triết lý sống của cộng đồng làng xã.

Theo TS. Lê Thị Cúc, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, múa rối nước từ lâu đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của cư dân đồng bằng Bắc Bộ; qua nhiều kỳ liên hoan và hoạt động biểu diễn, loại hình này vẫn được duy trì tương đối mạnh mẽ ở các tỉnh phía Bắc, dù đã có sự suy giảm đáng kể về số lượng phường rối truyền thống.

6.jpg
Nỗ lực bảo tồn rối nước trong không gian truyền thống. Ảnh: HNM

Hiện nay, cả nước chỉ còn hơn 10 phường rối nước dân gian, tập trung ở khu vực châu thổ sông Hồng; phần lớn các phường rối vẫn hoạt động theo hình thức phục vụ hội làng, đình đám, với lực lượng nghệ nhân là những người nông dân “tay cày tay rối”; điều này vừa tạo nên nét đẹp cộng đồng đặc trưng, vừa đặt ra thách thức khi rối nước phải cạnh tranh với nhiều loại hình giải trí hiện đại.

Trong bối cảnh đó, những nỗ lực bảo tồn gắn với phát triển đã bắt đầu cho thấy hướng đi mới; tiêu biểu là mô hình tại làng rối nước Đào Thục - một trong những cái nôi của nghệ thuật rối nước với lịch sử hơn 300 năm. Hiện nay, phường rối nước Đào Thục có hơn 30 nghệ nhân, trong đó khoảng hơn 20 người tham gia biểu diễn thường xuyên. Điều đáng chú ý là, dù vẫn giữ nguyên kỹ thuật, tích trò và lối diễn cổ truyền, phường rối Đào Thục đã chủ động kết nối với hoạt động du lịch, mở rộng đối tượng khán giả, tạo nguồn thu ổn định để nghệ nhân có thể sống với nghề.

Mới đây, đề tài “Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể nhằm phát triển các ngành công nghiệp văn hóa ở thủ đô Hà Nội” do Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội chủ trì, thực hiện mô hình công nghiệp văn hóa phức hợp (nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa kết hợp giáo dục di sản cho học sinh) tại làng múa rối nước Đào Thục.

Trên nền tảng cốt lõi là các buổi biểu diễn rối nước, chương trình được thiết kế thành một chuỗi trải nghiệm liên hoàn: khán giả ngoài xem biểu diễn mà còn được giao lưu với nghệ nhân, trực tiếp điều khiển con rối, thử làm quân rối, tham gia các hoạt động văn hóa dân gian như tuồng, chèo, ca trù…

TS. Mai Thị Hạnh, Phó Trưởng khoa Công nghiệp văn hóa và di sản, Chủ nhiệm đề tài khoa học cho biết, mục tiêu của mô hình không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn, mà hướng tới “đóng gói” di sản thành một sản phẩm công nghiệp văn hóa hoàn chỉnh. Sau khi nghiệm thu, toàn bộ chương trình sẽ được bàn giao cho địa phương để khai thác lâu dài, tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng.

Việc tích hợp nhiều loại hình di sản phi vật thể trong cùng một sản phẩm là hướng đi mới, giúp gia tăng giá trị và sức hấp dẫn của di sản. Đáng chú ý, mô hình này còn mở ra cách tiếp cận mới đối với thế hệ trẻ. Thay vì tìm hiểu di sản qua sách vở, học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động trải nghiệm, từ đó hình thành sự gắn bó tự nhiên với văn hóa truyền thống. Đây chính là chìa khóa để di sản không bị “bảo tàng hóa”.

Kể câu chuyện thời đại

Nhìn rộng hơn, câu chuyện của rối nước cũng là bài toán chung của bảo tồn di sản trong xã hội hiện đại. Giữ gìn không có nghĩa là “đóng băng”, mà phải làm cho di sản tiếp tục sống và phát triển trong bối cảnh mới.

Để làm được điều đó, cần một chiến lược đồng bộ và dài hạn. Trước hết là bảo tồn không gian diễn xướng truyền thống - yếu tố cốt lõi tạo nên bản sắc của rối nước. Song song với đó là gìn giữ kỹ thuật, tích trò cổ thông qua truyền nghề, đào tạo nghệ nhân trẻ. Bên cạnh đó, mạnh dạn khuyến khích sáng tạo, hỗ trợ các nghệ nhân, nghệ sĩ trẻ làm mới và khai thác chất liệu dân gian.

Tuy nhiên, đổi mới không đồng nghĩa với phá vỡ truyền thống. Thách thức đặt ra là làm sao để đưa câu chuyện hôm nay vào rối nước nhưng vẫn giữ được tinh thần dân gian, ngôn ngữ tạo hình và kỹ thuật biểu diễn đặc trưng. Đó có thể là việc làm mới âm nhạc, nhịp diễn, ánh sáng; hay khai thác các đề tài đương đại bằng chính “chất liệu” thẩm mỹ của rối nước.

Nghệ nhân Nguyễn Thế Nghị, phường rối Đào Thục cho rằng: “Ông cha ta xưa kia cũng kể những câu chuyện của thời đại mình bằng rối nước, vậy tại sao hôm nay chúng ta không làm điều tương tự?”. Theo ông, việc sáng tạo các tích trò mới, phản ánh đời sống đương đại là điều tất yếu nếu muốn rối nước bắt nhịp với xã hội hiện đại.

Việc kết nối với cộng đồng sáng tạo đương đại được xem là một hướng đi tiềm năng. Hà Nội hiện có hàng chục không gian sáng tạo, quy tụ đông đảo nghệ sĩ, nhà thiết kế, biên kịch trẻ. Nếu được kết nối hiệu quả với các phường rối truyền thống, đây sẽ là nguồn lực quan trọng để làm mới nội dung và hình thức biểu diễn. Ứng dụng công nghệ trong biểu diễn và quảng bá cũng cần được đẩy mạnh, nhằm nâng cao trải nghiệm của khán giả và mở rộng thị trường.

Đặc biệt, việc gắn kết rối nước với du lịch, giáo dục và các ngành công nghiệp văn hóa sẽ tạo ra giá trị gia tăng bền vững. Khi di sản trở thành một phần của đời sống kinh tế - xã hội, nghệ nhân có thể sống được bằng nghề, và di sản có cơ hội tiếp tục tồn tại.

Rối nước chỉ thực sự được bảo tồn khi nó còn khán giả, còn nghệ nhân và còn khả năng kể những câu chuyện của thời đại mình. Giữ hồn xưa, nhưng không đứng yên chính là con đường để nghệ thuật múa rối nước tiếp tục đồng hành cùng đời sống văn hóa Việt Nam, như một di sản sống, luôn giữ được sức hấp dẫn theo thời gian.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Rối nước giữ hồn xưa trong nhịp sáng tạo
        • Mặc định