Quy định rõ hơn để "lệnh cấm" kinh doanh "bóng cười" khả thi
Nhiều ĐBQH tán thành chủ trương cấm kinh doanh khí N₂O (bóng cười) để sử dụng cho con người ngoài mục đích hợp pháp, song đề nghị làm rõ trách nhiệm của các chủ thể trong chuỗi cung ứng và hoàn thiện điều khoản chuyển tiếp nhằm bảo đảm khả năng thực thi, tránh gây rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp.

Chiều 3/8, Tổ 9 (gồm Đoàn ĐBQH các tỉnh, thành phố: Cần Thơ, Hà Tĩnh, Lai Châu) thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan; dự án Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục IV về danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư; và dự án Nghị quyết của Quốc hội quy định cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các dự án, công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027 tại Đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang.
Đề nghị làm rõ trách nhiệm trong chuỗi cung ứng khí N₂O
Góp ý vào dự án Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục IV về danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư, các đại biểu đều tán thành chủ trương cấm đầu tư, kinh doanh khí N₂O (khí "bóng cười") để sử dụng cho con người qua đường hô hấp, ngoài các mục đích y tế, công nghệ thực phẩm, kiểm nghiệm và nghiên cứu khoa học.
Theo các đại biểu, việc siết chặt quản lý là cần thiết trong bối cảnh tình trạng lạm dụng khí N₂O ngày càng phức tạp, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, đặc biệt là thanh thiếu niên, và tiềm ẩn nhiều hệ lụy đối với trật tự, an toàn xã hội.

Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng quy định trong dự thảo Luật vẫn chưa đủ rõ để bảo đảm khả năng thực thi.
ĐBQH Đào Chí Nghĩa (Cần Thơ) cho biết, quy định cấm "kinh doanh khí N₂O để sử dụng cho con người qua đường hô hấp" có thể phát sinh ít nhất ba vướng mắc. Thứ nhất, rất khó xác định mục đích sử dụng cuối cùng của người mua. Thứ hai, doanh nghiệp sản xuất hoặc phân phối ở các khâu trung gian không thể biết người sử dụng cuối cùng dùng khí N₂O vào mục đích gì. Thứ ba, việc xác định trách nhiệm pháp lý của từng chủ thể trong chuỗi cung ứng sẽ gặp nhiều khó khăn.

Đại biểu đề nghị chỉnh lý theo hướng quy định rõ hành vi bị cấm là cung cấp, bán hoặc phân phối khí N₂O để hít trực tiếp nhằm mục đích giải trí; đồng thời giao Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của nhà sản xuất, nhập khẩu, phân phối và cơ sở bán lẻ. Bên cạnh đó, cần bổ sung cơ chế truy xuất nguồn gốc, hóa đơn điện tử và kiểm soát lưu thông sản phẩm nhằm bảo đảm tính khả thi khi thực hiện.
Đồng quan điểm, ĐBQH Hoàng Quốc Khánh (Lai Châu) đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ hơn hành vi vi phạm và cơ chế kiểm soát mục đích sử dụng cuối cùng của khí N₂O.
Theo đại biểu, khác với các ngành, nghề bị cấm đầu tư kinh doanh tuyệt đối theo Điều 6 Luật Đầu tư, khí N₂O là hóa chất lưỡng dụng, được phép sử dụng trong nhiều lĩnh vực hợp pháp. Vì vậy, việc cấm kinh doanh hiện nay chủ yếu dựa trên mục đích sử dụng của người mua.

Đại biểu cho rằng trong chuỗi cung ứng nhiều tầng nấc, các doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu và phân phối rất khó kiểm soát việc người tiêu dùng cuối cùng sử dụng khí N₂O để sản xuất "bóng cười" hay phục vụ các mục đích hợp pháp khác. Nếu dự thảo Luật không quy định rõ trách nhiệm của từng chủ thể và cơ chế kiểm soát phù hợp, các doanh nghiệp kinh doanh hợp pháp có thể đối mặt với rủi ro pháp lý.
Do đó, đại biểu đề nghị tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy định để vừa ngăn chặn hiệu quả việc lạm dụng khí N₂O, vừa bảo đảm tính khả thi và không gây khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp.
Kiến nghị quy định chặt hơn về điều khoản chuyển tiếp
Về điều khoản chuyển tiếp, dự thảo Luật quy định các hợp đồng kinh doanh khí N₂O để sử dụng cho con người qua đường hô hấp, ngoài mục đích y tế, công nghệ thực phẩm, kiểm nghiệm và nghiên cứu khoa học, được ký trước ngày luật có hiệu lực sẽ chấm dứt hiệu lực kể từ thời điểm luật có hiệu lực; các bên được thực hiện các hoạt động thanh lý hợp đồng theo quy định của pháp luật dân sự và các quy định pháp luật có liên quan.
ĐBQH Tô Ái Vang (Cần Thơ) cho rằng quy định cho phép các bên thanh lý hợp đồng là cần thiết, song chưa đủ chặt chẽ. Theo đại biểu, dự thảo chưa làm rõ cách xử lý các hợp đồng đã ký và đang thực hiện, cũng như nghĩa vụ của các bên trong giai đoạn chuyển tiếp như trả, nhận hàng hóa, thanh toán, bàn giao thiết bị... Đây là khoảng trống pháp lý có thể làm phát sinh tranh chấp dân sự, nhất là khi các bên không đạt được thỏa thuận.

Đại biểu cũng lưu ý, nếu không quy định cụ thể về thời hạn thanh lý, khối lượng hàng tồn kho hoặc tiêu chí xác định các chi phí hợp lý phát sinh, doanh nghiệp có thể lợi dụng để kéo dài hoạt động kinh doanh đối với mặt hàng đã bị cấm. Trong khi đó, cơ quan chức năng sẽ gặp khó khăn trong việc phân biệt giữa hoạt động thanh lý hợp pháp và hành vi kinh doanh trái phép.
Để khắc phục những bất cập này, đại biểu Tô Ái Vang đề xuất hai nhóm sửa đổi.
Thứ nhất, tách khoản 1 thành hai vế và bổ sung các từ "các", "đã" và "đương nhiên" để làm rõ phạm vi áp dụng cũng như hiệu lực của quy định. Theo đó, các hợp đồng đã ký trước ngày luật có hiệu lực sẽ đương nhiên chấm dứt hiệu lực kể từ thời điểm luật có hiệu lực.
Thứ hai, đại biểu đề nghị bổ sung thời hạn tối đa 45 ngày để các bên hoàn tất việc thanh lý hợp đồng. Đồng thời, dự thảo cần quy định rõ các hoạt động được phép thực hiện trong thời gian này, như xử lý hàng hóa, nguyên vật liệu tồn kho hoặc đang vận chuyển, trả lại hàng cho bên bán, thanh toán tiền và các chi phí hợp lý phát sinh; yêu cầu các bên thanh lý dứt điểm hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự và các quy định pháp luật có liên quan.
Theo đại biểu, việc quy định rõ thời điểm "đương nhiên chấm dứt" và thời hạn 45 ngày sẽ tạo mốc pháp lý minh bạch, ngăn ngừa tình trạng doanh nghiệp kéo dài hoạt động kinh doanh đã bị cấm dưới danh nghĩa thanh lý hợp đồng. Mặt khác, việc xác định cụ thể phạm vi các hoạt động được phép thực hiện vừa giúp doanh nghiệp chủ động xử lý hàng tồn kho, hợp đồng vận chuyển dở dang, giảm thiểu thiệt hại, vừa tạo căn cứ để cơ quan quản lý phân biệt giữa hoạt động thanh lý hợp pháp và hành vi kinh doanh trái phép.
Đồng tình với quan điểm trên, ĐBQH Trần Đình Gia (Hà Tĩnh) cho rằng dự thảo cần hoàn thiện các quy định chuyển tiếp nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp, tổ chức đang hoạt động trong lĩnh vực này.

Theo đại biểu, quy định đầy đủ về điều khoản chuyển tiếp sẽ tạo cơ sở pháp lý để doanh nghiệp xử lý các hợp đồng và hoạt động kinh doanh đang triển khai, qua đó hạn chế thiệt hại kinh tế và bảo đảm tính ổn định đối với các khoản đầu tư đã thực hiện trước khi luật có hiệu lực.
Cơ quan soạn thảo cho biết, hiện nay, trên cơ sở báo cáo của Bộ Công an, qua theo dõi và đánh giá, trong thời gian qua, việc lạm dụng khí N₂O (bóng cười) để giải trí đã gây nhiều tác hại nghiêm trọng đối với sức khỏe, đặc biệt đối với hệ thần kinh, máu và khả năng sinh sản, đồng thời có nguy cơ dẫn đến lệ thuộc và sử dụng ma túy.
Bên cạnh đó, tình trạng mua bán, sử dụng N₂O (bóng cười) diễn biến rất phức tạp, thường gắn với việc sử dụng trái phép chất ma túy, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng và trật tự, an toàn xã hội.
Mặc dù pháp luật hiện hành đã có các quy định kiểm soát việc kinh doanh và sử dụng khí N₂O trong một số lĩnh vực như y tế, công nghiệp, thực phẩm,…, các biện pháp này vẫn chưa đủ hiệu quả để ngăn ngừa việc lạm dụng khí N₂O.
Để đảm bảo loại trừ các trường hợp khí N₂O hiện vẫn được sử dụng hợp pháp trong một số hoạt động nghiên cứu khoa học, thực nghiệm, kiểm định, thực phẩm, dự thảo Luật đã quy định cấm theo hướng loại trừ việc sử dụng khí N₂O trong hoạt động y tế, công nghệ thực phẩm và kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học.

