Quốc hội thông qua Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi)
Sáng 24/8, tiếp tục Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) với 471/472 ĐBQH có mặt tán thành (đạt 99,78%).

Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) gồm 5 chương, 35 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027.
Luật quy định nguyên tắc, chính sách của Nhà nước về hòa giải ở cơ sở; hòa giải viên, tổ hòa giải, người được mời tham gia hòa giải, các bên trong hòa giải ở cơ sở; hoạt động hòa giải ở cơ sở; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong hòa giải ở cơ sở.

Luật không áp dụng đối với hoạt động hòa giải của tòa án, trọng tài, hòa giải thương mại, hòa giải lao động, hòa giải tại UBND xã, phường, đặc khu và hoạt động hòa giải được luật khác quy định.
Theo Luật, hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên và người được mời tham gia hòa giải (nếu có) hỗ trợ, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật ở cơ sở. Người được mời tham gia hòa giải là cá nhân hoặc đại diện cơ quan, tổ chức thực hiện việc tư vấn, hỗ trợ hoặc trực tiếp tham gia vụ, việc hòa giải cùng hòa giải viên.

Việc hòa giải ở cơ sở được tiến hành đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật, trừ các trường hợp: Mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng theo quy định của pháp luật; Mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội theo quy định của pháp luật; Vi phạm pháp luật mà theo quy định bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạm hành chính, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; Mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật khác không được hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật.

Luật quy định Tiêu chuẩn của hòa giải viên gồm: Là công dân Việt Nam cư trú tại cơ sở; có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín trong cộng đồng dân cư; có khả năng thuyết phục, vận động Nhân dân; có hiểu biết pháp luật; không trong thời hạn xử lý kỷ luật, thi hành quyết định xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang chấp hành án hình sự hoặc chưa được xóa án tích; không trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Trước đó, trình bày tóm tắt Báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) trình Quốc hội xem xét, thông qua, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết, về tiêu chuẩn của hòa giải viên (Điều 8), dự thảo Luật lược bỏ từ “thường xuyên” trong cụm từ “cư trú thường xuyên tại cơ sở” nhằm mở rộng phạm vi người được lựa chọn vào danh sách bầu hòa giải viên và bảo đảm thống nhất với Luật Cư trú.

Đồng thời, bổ sung tiêu chuẩn “có năng lực hành vi dân sự đầy đủ”; bổ sung tại khoản 5 Điều 8 quy định về các trường hợp không đủ tiêu chuẩn làm hòa giải viên, bao gồm người đang trong thời hạn thi hành quyết định xử lý kỷ luật, trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, người đang chấp hành án hình sự hoặc chưa được xóa án tích để bảo đảm chặt chẽ.

Về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hòa giải (Điều 22), dự thảo Luật bổ sung quyền của các bên trong việc lựa chọn, đề xuất, đề nghị thay đổi người phiên dịch (điểm a khoản 1 Điều 22); chỉnh lý quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan thay cho “chứng cứ” và bổ sung quy định các bên đồng ý với nội dung văn bản về kết quả hòa giải khi ký tên, điểm chỉ hoặc xác nhận vào văn bản (điểm a và điểm d khoản 2 Điều 22).

