QH cần quan tâm đặc biệt đến DNNN với tư cách là chủ sở hữu

Ts. Nguyễn Đức Kiên
Phó bí thư Tỉnh ủy Sóc Trăng
12/05/2011 07:53

Nhiệm kỳ QH Khóa XII chỉ còn tính bằng ngày. Tại Kỳ họp thứ Chín, các ĐBQH cũng đã thảo luận về những mặt làm được và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, rút kinh nghiệm để làm tốt hơn trong nhiệm kỳ QH Khóa XIII. Một trong những vấn đề mà nhiều ĐBQH trăn trở là làm thế nào để phát hiện sớm được những yếu tố gây cản trở sự phát triển KT-XH của đất nước và khi đã phát hiện được thì cần xử lý như thế nào?

QH chủ động xử lý những tồn tại của nền kinh tế

Nhiệm kỳ QH Khóa XII chỉ còn tính bằng ngày. Tại Kỳ họp thứ Chín, các ĐBQH cũng đã thảo luận về những mặt làm được và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, rút kinh nghiệm để làm tốt hơn trong nhiệm kỳ QH Khóa XIII. Một trong những vấn đề mà nhiều ĐBQH trăn trở là làm thế nào để phát hiện sớm được những yếu tố gây cản trở sự phát triển KT-XH của đất nước và khi đã phát hiện được thì cần xử lý như thế nào?

Còn nhớ, tại Kỳ họp thứ Hai, QH Khóa XII, cuối năm 2007, các thành viên Ủy ban Kinh tế căn cứ vào tình hình thực tế điều hành vĩ mô đã đưa ra dự báo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2008 sẽ chịu nhiều sức ép và sẽ tăng cao hơn mức dự báo của Chính phủ. Ý kiến này đã được thể hiện trong Báo cáo thẩm tra tình hình thực hiện nhiệm vụ KT-XH năm 2007 nhưng đáng tiếc là đã chưa được quan tâm đúng mức. Vấn đề đặt ra là, trong những tình huống như vậy, các cơ quan của QH cần xử lý như thế nào để bảo đảm đúng thẩm quyền đã được pháp luật quy định? Trong các Phiên họp toàn thể của QH, nhiều ĐBQH mới tập trung phản ánh tình hình thực tiễn từ địa phương hay ngành mình. Điều này là đúng nhưng chưa đủ để QH thực hiện thẩm quyền quyết định các vấn đề quan trọng, những vấn đề vĩ mô của đất nước. QH cần chủ động hơn nữa trong việc xử lý những nút thắt, những hạn chế, tồn tại gây cản trở sự phát triển KT-XH của đất nước. UBTVQH nên có những định hướng thảo luận cho ĐBQH. Sau ngày thảo luận thứ nhất về tình hình KT-XH, cần có tổng hợp, phân tích các vấn đề phát hiện trong ý kiến của ĐBQH, từ đó đối chiếu với Báo cáo thẩm tra của cơ quan chuyên môn của QH để đưa ra những vấn đề thuộc về điều hành vĩ mô để các ĐBQH tiếp tục thảo luận sâu hơn về những vấn đề này. Với cách thảo luận như vậy sẽ tạo được sự đồng thuận của các ĐBQH về những ưu khuyết trong điều hành kinh tế vĩ mô cũng như các giải pháp cần tiếp tục thực hiện. Qua thảo luận, những vấn đề chưa được làm rõ cũng sẽ là cơ sở để ĐBQH chất vấn các thành viên Chính phủ trong Phiên chất vấn và trả lời chất vấn. Điều này cũng sẽ góp phần từng bước nâng cao chất lượng các Phiên chất vấn và trả lời chất vấn, đóng góp cho sự phát triển ổn định  kinh tế vĩ mô vì mục tiêu cuối cùng của cả Chính phủ và QH chúng ta là ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển bền vững. Và như vậy, trong Nghị quyết của Kỳ họp cuối năm của QH, cần nêu được mối quan tâm và sự đồng thuận của Chính phủ về những vấn đề cấp bách của đất nước, có địa chỉ rõ ràng cơ quan thực hiện và cơ quan giám sát. Với cách làm như vậy sẽ kết hợp được mục tiêu đề ra với khả năng đáp ứng tài chính của đất nước, tránh tình trạng mục tiêu đặt ra quá nhiều, quá lớn mà kinh phí không bảo đảm phải kéo dài nhiều năm làm cho chỉ số CPI tăng cao, hiệu quả đầu tư bị giảm sút.

Và quan tâm đặc biệt đến DNNN với tư cách là chủ sở hữu

Một vấn đề hết sức quan trọng đã được QH nhiều khóa quan tâm là vấn đề quản lý doanh nghiệp nhà nước. Sử dụng tốt các nguồn lực của doanh nghiệp nhà nước vừa là đòi hỏi tự thân của các doanh nghiệp này nhưng đồng thời còn là đóng góp quan trọng cho việc nghiên cứu lý luận xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của nước ta.

Chúng ta đều biết đặc trưng chủ yếu của nền kinh tế thị trường là tối đa hóa lợi nhuận của nhà đầu tư. Vì vậy, bên cạnh các mặt tích cực, kinh tế thị trường cũng có nhiều nhược điểm lớn như: tiềm ẩn nguy cơ mất cân đối cung cầu trên thị trường, ít quan tâm đến vấn đề phát triển bền vững của xã hội như gian lận thuế, hủy hoại môi trường... Bản thân nền kinh tế thị trường là một mô hình phát triển không thể tự làm giàu cho tất cả mọi thành viên của xã hội nên trong quá trình phát triển của mình, các nhà nghiên cứu và ứng dụng cũng đã đưa ra nhiều mô hình khác nhau trong thế kỷ XX với một công cụ thống nhất chung đó là Nhà nước. Có thể kể ra ở đây nhiều loại mô hình kinh tế thị trường với vai trò can thiệp của Nhà nước như: mô hình kinh tế thị trường xã hội của Cộng hòa Liên bang Đức, mô hình kinh tế thị trường dân chủ Bắc âu như của Thụy Điển, Phần Lan... Vấn đề đặt ra là, doanh nghiệp nhà nước tồn tại và có vai trò như thế nào trong nền kinh tế thị trường chứ không phải là có hay không có doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Chúng ta biết rằng, Vương quốc Anh mãi đến những năm 80 của thế kỷ XX mới tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước; Cộng hòa Pháp hiện vẫn tồn tại doanh nghiệp nhà nước trong một số ngành, lĩnh vực như giao thông, bưu điện. Ngay như hãng ô tô nổi tiếng của Cộng hòa Liên bang Đức là VW cũng có vốn của chính quyền tiểu bang Nieder Sachsen.

Ở nước ta, doanh nghiệp nhà nước với tổng tài sản hơn 400 nghìn tỷ đồng, đóng góp hàng năm khoảng 30% GDP lại hoạt động trong môi trường chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường định hướng XHCN cần được QH đặc biệt quan tâm. Với cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường thì vấn đề đặt ra ở đây là QH và Chính phủ có quyết định được nguồn vốn đầu tư, tốc độ phát triển của khối kinh tế ngoài nhà nước, kinh tế tư nhân và kinh tế FDI được không? Hay là chúng ta cần có cách nhìn khác trong điều hành vĩ mô: bên cạnh việc tạo môi trường pháp lý bình đẳng, thuận lợi cho mọi loại hình doanh nghiệp thì QH và Chính phủ cần quan tâm đặc biệt đến doanh nghiệp nhà nước với tư cách là chủ sở hữu. Trong báo cáo hàng năm trình QH, Chính phủ cũng chưa đánh giá riêng về hiệu quả sử dụng và quản lý nguồn vốn và tài sản rất lớn tại các doanh nghiệp nhà nước.

Xét về yếu tố kinh tế, Nhà nước có thể sử dụng lực lượng doanh nghiệp nhà nước để thực hiện vai trò đầu tàu, đi trước mở đường trong những lĩnh vực đầu tư có nhiều rủi ro hoặc đòi hỏi vốn lớn. Mặt khác, đây cũng là công cụ giúp Nhà nước khắc phục các khuyết tật của mô hình kinh tế thị trường như đã nêu ở trên để thực hiện chủ trương lớn hiện nay là tái cấu trúc nền kinh tế thì QH và Chính phủ cần tập trung vào 2 vấn đề. Thứ nhất, xây dựng mô hình tăng trưởng kinh tế xã hội theo tam giác phát triển: kinh tế – an sinh xã hội – bảo vệ môi trường. Thứ hai, tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước theo mô hình trên.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI chỉ ra những nét cơ bản về xây dựng mô hình tăng trưởng bền vững. Vấn đề này cần sớm được cụ thể hóa thành lộ trình thực hiện trong nhiều năm. Riêng về việc tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước theo mô hình tăng trưởng bền vững, tôi đề nghị, cần sớm thành lập một cơ quan ngang bộ để thực hiện chức năng chủ sở hữu tại doanh nghiệp nhà nước và hàng năm phải có báo cáo với QH về hiệu quả sử dụng vốn. Đây cũng là bước đi quan trọng trong việc tách chức năng quản lý nhà nước chung với chức năng chủ sở hữu. Tiếp đó, cần xây dựng Luật Quản lý vốn và tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước theo kiến nghị giám sát tối cao của QH Khóa XII về việc quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại các Tập đoàn, tổng công ty nhà nước.

Trong nhiệm kỳ QH Khóa XIII, tôi đề nghị cần đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước mà Nhà nước không còn nắm giữ vốn chi phối; có kế hoạch sử dụng có hiệu quả nguồn vốn thu được từ cổ phần hóa để góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển sản xuất. Thực hiện nghiêm việc công khai tài chính các doanh nghiệp nhà nước như đối với công ty cổ phần niêm yết trên sàn để tăng cường công tác kiểm tra đấu tranh phòng, chống tham nhũng và tạo tâm lý tích cực cho động đồng doanh nghiệp tiếp tục đầu tư vào ngành, lĩnh vực mà Nhà nước khuyến khích.

    QH cần quan tâm đặc biệt đến DNNN với tư cách là chủ sở hữu
    • Mặc định