Cân nhắc giảm vốn đối ứng cho tỉnh khó khăn khi đầu tư 3 tuyến cao tốc
Đồng tình với chủ trương đầu tư ba tuyến cao tốc tại các địa phương còn nhiều khó khăn, các ĐBQH đề nghị làm rõ phương án bố trí vốn, bảo đảm kết nối đồng bộ và tính toán đầy đủ chi phí vận hành, bảo trì để phát huy hiệu quả đầu tư.

Cuối giờ sáng 7/11, Tổ 3 gồm Đoàn ĐBQH TP. Hải Phòng, tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Hà Tĩnh, thảo luận về chủ trương đầu tư ba dự án đường bộ cao tốc Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên (địa phận tỉnh Sơn La), Bảo Hà - Lai Châu (đoạn Bảo Hà - Tân Phong) và Quảng Ngãi - Kon Tum.
Theo Tờ trình của Chính phủ, 3 tuyến cao tốc này có tổng chiều dài khoảng 430 km, sơ bộ tổng mức đầu tư 162.400 tỷ đồng. Các tuyến được đầu tư quy mô 4 làn xe, tốc độ thiết kế 80-120 km/h. Hướng tuyến được lựa chọn phù hợp quy hoạch, hạn chế chiều dài và khối lượng giải phóng mặt bằng.
"Tôi nhất trí với sự cần thiết đầu tư và hình thức đầu tư công đối với cả ba dự án", ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn (TP. Hải Phòng) bày tỏ; đồng thời đề nghị Chính phủ tiếp tục làm rõ một số vấn đề để bảo đảm hiệu quả sử dụng ngân sách và khả năng triển khai các dự án.
Bảo đảm kết nối đồng bộ, phát huy hiệu quả đầu tư
Theo ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn, các tuyến cao tốc được kỳ vọng rút ngắn đáng kể thời gian di chuyển, tạo thuận lợi cho giao thương và phát triển kinh tế. Chẳng hạn, thời gian đi từ Hà Nội đến Sơn La dự kiến giảm từ 6-7 giờ xuống còn 3-3,5 giờ; từ Quảng Ngãi đến Kon Tum giảm từ 4,5 giờ xuống khoảng 1,5 giờ.

Dù vậy, một số tuyến chưa được đầu tư đến điểm cuối theo quy hoạch. Tuyến Bảo Hà - Lai Châu mới dừng ở Tân Phong, chưa tới cửa khẩu Ma Lù Thàng; tuyến Quảng Ngãi - Kon Tum dừng ở đường Hồ Chí Minh, chưa kết nối với cao tốc Bắc - Nam phía Tây.
Đại biểu đề nghị làm rõ lộ trình đầu tư các đoạn còn lại, đồng thời tính toán thận trọng hiệu quả kinh tế, nhất là lợi ích từ hoạt động cửa khẩu và logistics.
"Khi tính lợi ích kinh tế cửa khẩu, logistics, cần tách bạch phần lợi ích chỉ phát sinh khi tuyến được nối thông, tránh tính trước lợi ích của các đoạn chưa có chủ trương đầu tư", đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn kiến nghị.
Cùng quan tâm đến tính đồng bộ của hệ thống giao thông, ĐBQH Trần Lan Phương (TP. Hải Phòng) đề nghị Chính phủ xem xét bổ sung 4 km còn lại của tuyến Quảng Ngãi - Kon Tum vào phạm vi đầu tư trong giai đoạn này.
Theo đại biểu Trần Lan Phương, tuyến cao tốc được quy hoạch dài 136 km nhưng hiện mới dự kiến đầu tư 132 km. Phần còn lại tuy ngắn nhưng đi qua khu vực Đắk Hà, nơi có tiềm năng phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực như cà phê, sầu riêng, chanh leo.

Việc đầu tư đồng bộ đoạn tuyến này sẽ góp phần kết nối vùng sản xuất với các trung tâm chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu, mở rộng không gian phát triển kinh tế. Đặc biệt, khi địa phương đã cam kết đầu tư các tuyến đường kết nối, việc hoàn thiện tuyến cao tốc ngay từ đầu sẽ giúp phát huy hiệu quả nguồn vốn, tránh phải đầu tư bổ sung sau này.
"Không nên chỉ nhìn vào chiều dài đoạn tuyến hay chi phí đầu tư trước mắt, mà cần đánh giá đầy đủ hiệu quả kinh tế - xã hội và không gian phát triển mà công trình mang lại", đại biểu Trần Lan Phương nhấn mạnh.
Ở góc độ khai thác hiệu quả đầu tư, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn cũng đề nghị bổ sung danh mục và nguồn vốn cho các tuyến đường kết nối chủ yếu tại Lai Châu và Quảng Ngãi.
Theo đại biểu, nếu cao tốc được xây dựng nhưng thiếu đường kết nối phù hợp, khả năng thu hút đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương sẽ bị hạn chế.
Cân nhắc hỗ trợ vốn đối ứng cho địa phương khó khăn
Một vấn đề được cả hai đại biểu quan tâm là khả năng cân đối ngân sách và bố trí vốn đối ứng của các địa phương.
Đại biểu Trần Lan Phương cho rằng Quảng Ngãi và Lai Châu đều còn nhiều khó khăn, nhu cầu đầu tư phát triển và bảo đảm an sinh xã hội lớn, trong khi nguồn lực ngân sách hạn chế. Riêng Quảng Ngãi, việc phải bố trí khoảng 2.047 tỷ đồng vốn đối ứng tạo áp lực không nhỏ đối với ngân sách tỉnh.
Theo đại biểu, với những dự án hạ tầng giao thông chiến lược, có ý nghĩa liên vùng, việc xác định mức vốn đối ứng cần căn cứ vào điều kiện thực tế và khả năng cân đối ngân sách của từng địa phương.
Từ đó, đại biểu đề nghị Chính phủ cân nhắc giảm mức vốn đối ứng, thậm chí xem xét ngân sách trung ương hỗ trợ toàn bộ đối với những địa phương còn nhiều khó khăn như Quảng Ngãi và Lai Châu.
"Không nên để những địa phương còn khó khăn lại phải gánh thêm áp lực ngân sách khi triển khai chính những công trình có ý nghĩa thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng", đại biểu Trần Lan Phương nói.

Đồng quan điểm, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn phân tích, Lai Châu dự kiến phải bố trí khoảng 2.004 tỷ đồng vốn đối ứng, tương đương 38,7% kế hoạch đầu tư công trung hạn của tỉnh, trong khi Lào Cai cùng tham gia dự án không phải bố trí vốn đối ứng.
Đại biểu đề nghị cân nhắc ngân sách trung ương bảo đảm phần vốn này để Lai Châu có thêm nguồn lực đầu tư các tuyến đường kết nối, qua đó phát huy hiệu quả tuyến cao tốc.
Đối với Sơn La, đại biểu đánh giá việc ngân sách trung ương bảo đảm toàn bộ vốn đầu tư là có cơ sở, bởi riêng chi phí giải phóng mặt bằng dự kiến khoảng 8.958 tỷ đồng, vượt tổng kế hoạch đầu tư công trung hạn của tỉnh. Tuy nhiên, với gần 5.000 hộ dân bị ảnh hưởng, trong đó 920 hộ phải tái định cư, cần đánh giá năng lực tổ chức thực hiện của chính quyền cấp xã sau sắp xếp và có cơ chế hỗ trợ phù hợp.
Bên cạnh đó, ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn đề nghị làm rõ phương án bố trí vốn cho toàn bộ quá trình triển khai. Theo hồ sơ, hai dự án Sơn La và Bảo Hà - Lai Châu cần khoảng 34.600 tỷ đồng sau năm 2030; dự án Quảng Ngãi - Kon Tum còn thiếu khoảng 5.312 tỷ đồng trong giai đoạn 2026-2030.
Đại biểu kiến nghị xác định rõ cơ cấu, trách nhiệm bảo đảm nguồn vốn và nguyên tắc ưu tiên bố trí trong kế hoạch đầu tư công giai đoạn 2031-2035 ngay tại nghị quyết của Quốc hội.
Chủ động nguồn vật liệu, tính toán chi phí vận hành lâu dài
Ngoài nguồn vốn đầu tư ban đầu, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn lưu ý cần tính toán đầy đủ chi phí vận hành, bảo trì các tuyến cao tốc sau khi hoàn thành.
Theo hồ sơ, phương án đầu tư theo hình thức BOT không khả thi đối với cả ba dự án, kể cả khi Nhà nước tham gia 50-70% vốn. Vì vậy, đại biểu đồng tình lựa chọn đầu tư công, song đề nghị làm rõ phương án tài chính trong quá trình khai thác.
Với khoảng 229 cầu và 8 hầm trên ba tuyến, chi phí vận hành, bảo trì, nhất là thông gió, chiếu sáng, phòng cháy chữa cháy và cứu nạn tại các hầm, sẽ là khoản chi ngân sách dài hạn.
Đại biểu đề nghị Chính phủ bổ sung ước tính chi phí vận hành, bảo trì hằng năm và dự báo doanh thu thu phí của từng tuyến, trước hết làm rõ "tiền thu phí có đủ bù chi phí bảo trì hay không?".
Về điều kiện triển khai, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn đặc biệt quan tâm đến nguồn cung vật liệu xây dựng. Theo đại biểu, các hồ sơ hiện mới nêu nguyên tắc ưu tiên vật liệu địa phương và xác định mỏ ở bước tiếp theo, chưa làm rõ trữ lượng, công suất khai thác và khả năng đáp ứng tiến độ.
Riêng dự án Sơn La dự kiến đào khoảng 117,9 triệu m³ đất đá, cần đắp khoảng 56,5 triệu m³. Trong khi đó, nhiều dự án hạ tầng lớn có thể được triển khai đồng thời trên cùng địa bàn, tạo áp lực về nguồn cung.
Từ bài học thiếu vật liệu làm chậm tiến độ một số dự án cao tốc thời gian qua, đại biểu đề nghị Chính phủ rà soát quy định hiện hành về cấp phép khai thác mỏ cho nhà thầu; trường hợp chưa đáp ứng yêu cầu, cần bổ sung cơ chế phù hợp ngay trong nghị quyết.