Ý kiến đại biểu

Phát triển kinh tế biển phải gắn với bảo vệ sinh kế người dân

Thanh Mai • 06/11/2026 20:51

Thảo luận tại hội trường về dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) chiều 6/11, ĐBQH Lê Hữu Trí (Khánh Hòa) đề nghị bảo đảm quyền tiếp cận biển của người dân ngay từ khâu quy hoạch, phê duyệt dự án; đồng thời kiểm soát chặt chẽ việc phân bổ, sử dụng không gian biển, gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và sinh kế cộng đồng ven biển.

Phân định rõ trách nhiệm quản lý, bảo đảm quyền tiếp cận biển của người dân

ĐBQH Lê Hữu Trí cơ bản thống nhất với sự cần thiết hoàn thiện Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, nhằm tạo nền tảng pháp lý cho phát triển kinh tế biển xanh, bảo vệ chủ quyền, bảo tồn hệ sinh thái và bảo đảm sinh kế lâu dài của Nhân dân.

ĐBQH Lê Hữu Trí (Khánh Hòa) phát biểu. Ảnh: Hồ Long
ĐBQH Lê Hữu Trí (Khánh Hòa) phát biểu. Ảnh: Hồ Long

Tuy nhiên, đại biểu cho rằng, biển không chỉ là không gian phát triển kinh tế mà còn là không gian sinh tồn của cộng đồng dân cư ven biển. Vì vậy, luật cần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa khai thác và bảo tồn, giữa lợi ích quốc gia và quyền lợi chính đáng của người dân, giữa phát triển trước mắt và trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai.

Quan tâm đến cơ chế điều phối và trách nhiệm quản lý không gian biển tại Điều 6 và Điều 7, đại biểu đồng tình với định hướng Chính phủ thống nhất quản lý, thiết lập cơ chế điều phối, phối hợp tập trung, liên ngành. Tuy nhiên, nếu chỉ quy định về phối hợp mà không xác định rõ trách nhiệm quyết định, trách nhiệm giải trình và thời hạn xử lý thì nguy cơ chồng chéo vẫn còn, thậm chí có thể phát sinh thêm tầng nấc hành chính.

Đặc biệt, Điều 22 quy định trách nhiệm quản lý không gian biển của cấp tỉnh, cấp xã có biển, trong khi vùng biển ngoài ranh giới quản lý hành chính thuộc trách nhiệm quản lý của trung ương. Do đó, đại biểu đề nghị xác định rõ cơ quan đầu mối, thẩm quyền xử lý cuối cùng đối với những vấn đề liên ngành, liên vùng; phân định cụ thể trách nhiệm giữa trung ương và địa phương.

Cùng với đó, việc phân cấp phải gắn với bảo đảm nguồn lực, nhân lực, dữ liệu và cơ chế kiểm tra, giám sát. Không thể giao trách nhiệm cho địa phương nhưng thiếu điều kiện thực hiện, cũng không thể để một vấn đề liên ngành kéo dài vì không có cơ quan chịu trách nhiệm đến cùng.

Đặc biệt quan tâm đến quyền tiếp cận biển của người dân tại Điều 9, sự tham gia của cộng đồng tại Điều 10 và quy định về xây dựng, quản lý đảo nhân tạo, công trình trên biển tại Điều 23, ĐBQH Lê Hữu Trí đánh giá cao việc dự thảo nghiêm cấm hành vi chiếm dụng, rào chắn, xây dựng công trình trái pháp luật làm mất lối tiếp cận biển công cộng.

Tuy nhiên, theo đại biểu, cần làm rõ cơ chế thực thi ngay từ khâu quy hoạch, giao khu vực biển và phê duyệt dự án. Bởi khi công trình đã hình thành, việc khôi phục lối tiếp cận biển cho người dân sẽ rất khó khăn.

Đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc các dự án ven biển, lấn biển, xây dựng công trình trên biển phải xác định rõ lối tiếp cận biển công cộng, bãi tắm công cộng và không gian sinh hoạt truyền thống của cộng đồng.

Không được biến quyền tiếp cận biển hợp pháp của người dân thành quyền phụ thuộc vào sự cho phép của chủ đầu tư. Đồng thời, cần công khai quy hoạch, tổ chức tham vấn cộng đồng thực chất và xử lý nghiêm các hành vi chiếm dụng không gian biển công cộng.

Không thể chỉ căn cứ vào số tiền doanh nghiệp trả để phân bổ không gian biển

Đề cập các quy định về quy hoạch, giao, cho thuê, đăng ký sử dụng, chuyển nhượng và thu hồi khu vực biển tại các Điều 20, 21 và từ Điều 24 đến Điều 39, ĐBQH Lê Hữu Trí cho rằng, đây là nhóm quy định tác động trực tiếp đến môi trường đầu tư, hiệu quả sử dụng tài nguyên và lợi ích quốc gia.

Đối với Điều 21 về giải quyết xung đột, chồng lấn trong sử dụng không gian biển, đại biểu đề nghị quy định cụ thể phương pháp đánh giá đa tiêu chí, cơ chế công khai hồ sơ và trách nhiệm giải trình khi lựa chọn phương án sử dụng biển, tránh tình trạng các tiêu chí định tính được vận dụng tùy nghi.

Riêng Điều 27 về đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, cần bảo đảm tính thực chất, minh bạch, ngăn chặn tình trạng lợi dụng cơ chế để đầu cơ, giữ chỗ hoặc chuyển nhượng dự án nhằm trục lợi từ tài nguyên công.

Các đại biểu tham dự phiên họpVQK_6968
Các đại biểu tham dự phiên họp. Ảnh: Quang Khánh

Đại biểu nhấn mạnh, cần phân biệt rõ giữa dự án có hiệu quả kinh tế cao với dự án mang lại lợi ích tổng thể cao. Việc phân bổ không gian biển không thể chỉ căn cứ vào số tiền doanh nghiệp sẵn sàng trả mà phải xem xét đầy đủ tác động môi trường, sinh kế người dân, quốc phòng, an ninh và khả năng phục hồi hệ sinh thái.

Một nội dung khác được đại biểu quan tâm là kiểm soát ô nhiễm môi trường biển. Đánh giá cao các quy định tại Chương V về quản lý rác thải biển, ứng phó sự cố môi trường, phục hồi hệ sinh thái và trách nhiệm bồi thường thiệt hại, đại biểu cho rằng cần chuyển mạnh từ tư duy xử lý ô nhiễm sang phòng ngừa, kiểm soát ngay từ đầu.

Theo đó, cần xây dựng hệ thống quan trắc, cảnh báo ô nhiễm biển liên tục, kết nối dữ liệu giữa trung ương và địa phương; công khai thông tin chất lượng môi trường biển tại các khu vực du lịch, nuôi trồng thủy sản và những vùng có nguy cơ ô nhiễm cao.

Đối với các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm lớn, đại biểu đề nghị tăng cường kiểm tra đột xuất, giám sát nguồn thải và yêu cầu bảo đảm tài chính cho việc khắc phục sự cố.

Liên quan đến Điều 61 về ứng phó sự cố môi trường biển và Điều 62 về cải thiện, phục hồi môi trường biển, cần làm rõ trách nhiệm của cơ quan chỉ huy, cơ chế huy động lực lượng, nguồn kinh phí ứng phó và nguyên tắc người gây ô nhiễm phải chịu toàn bộ chi phí khắc phục.

Đại biểu lưu ý, không thể để xảy ra sự cố rồi mới xác định trách nhiệm, càng không thể để ngân sách nhà nước và người dân phải gánh chịu hậu quả từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Đặc biệt, đối với các chính sách ưu đãi, hỗ trợ và huy động nguồn lực tại các Điều 40 đến 47, ĐBQH Lê Hữu Trí đề nghị phải có cơ chế bảo vệ sinh kế và chia sẻ lợi ích thực chất với cộng đồng dân cư ven biển.

Khi một khu vực biển được chuyển đổi mục đích sử dụng để phục vụ dự án kinh tế hoặc hình thành khu bảo tồn, cần đánh giá đầy đủ tác động đến ngư dân, người làm nghề biển, hoạt động nuôi trồng thủy sản và du lịch cộng đồng.

Trên cơ sở đó, luật cần có cơ chế hỗ trợ chuyển đổi nghề, đào tạo kỹ năng, tạo việc làm mới, phục hồi sinh kế; đồng thời tạo điều kiện để cộng đồng dân cư được tham gia và hưởng lợi hợp lý từ các hoạt động phát triển kinh tế biển.

Đối với những khu vực có nguy cơ xói lở, sạt lở, ngập lụt, việc rà soát, di dời công trình theo Điều 52 phải được thực hiện công khai, minh bạch, có lộ trình và cơ chế bồi thường, hỗ trợ phù hợp, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

Thanh Mai