Thông tư 85 - Một chủ trương tích cực, thể hiện sự tiến bộ trong quản lý giáo dục
Đánh giá Thông tư 85 là bước tiến trong việc bảo đảm công bằng giáo dục, song chuyên gia cho rằng chính sách chỉ có thể phát huy hiệu quả khi được bảo đảm về nguồn lực, có tiêu chí phân định rõ ràng giữa các loại hình hoạt động và cơ chế giám sát chặt chẽ tại nhà trường.
Trao đổi với Báo Đại biểu Nhân dân, PGS.TS Bùi Thị An, nguyên Đại biểu Quốc hội khóa XIII nhận định, điểm tích cực đầu tiên của Thông tư 85 là quy định rõ hoạt động giáo dục tăng cường không thu phí. Điều này góp phần bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục công bằng hơn giữa các nhóm học sinh, thay vì để điều kiện kinh tế của gia đình trở thành yếu tố quyết định việc các em có được tham gia những hoạt động này hay không.
PGS.TS Bùi Thị An cho rằng việc quy định hoạt động giáo dục tăng cường không thu phí là một điểm tiến bộ, góp phần thu hẹp khoảng cách về cơ hội học tập.

Góp phần bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục công bằng cho học sinh
- Từ thực tiễn giáo dục phổ thông, bà đánh giá như thế nào về quy định phân định giữa hoạt động giáo dục tăng cường không thu phí và hoạt động giáo dục theo nhu cầu có thu phí tại Thông tư 85? Theo bà, quy định này có ý nghĩa như thế nào trong việc bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục công bằng cho học sinh?
PGS.TS Bùi Thị An: Đánh giá về Thông tư 85, tôi cho rằng đây là một chủ trương tích cực, thể hiện sự tiến bộ trong quản lý giáo dục. Điểm đáng ghi nhận trước hết là quy định đã phân định rõ hoạt động giáo dục tăng cường không thu phí và các hoạt động được tổ chức theo nhu cầu, có thu phí.
Điều này góp phần bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục công bằng cho học sinh, bởi trước đây, với những hoạt động giáo dục tăng cường phải đóng tiền, chỉ những gia đình có điều kiện kinh tế mới có thể cho con tham gia. Trong khi đó, học sinh ở những gia đình khó khăn có thể bị hạn chế cơ hội tiếp cận.
Thứ hai, quy định mới làm rõ tính tự nguyện của các hoạt động giáo dục theo nhu cầu. Trước đây, ranh giới giữa các hoạt động này đôi khi chưa thực sự rõ ràng, khiến phụ huynh rơi vào tình thế khó xử: nếu không cho con tham gia thì lo con bị thiệt thòi, nhưng nếu tham gia lại phải cân nhắc về điều kiện kinh tế. Vì vậy, việc phân định cụ thể các loại hình hoạt động không chỉ giúp phụ huynh có cơ sở lựa chọn mà còn tạo thuận lợi cho công tác quản lý trong nhà trường. Đặc biệt, điều này có ý nghĩa với học sinh ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.

Thanh tra, kiểm tra và giám sát cần được thực hiện thường xuyên, chặt chẽ
- Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, có ý kiến lo ngại một số cơ sở giáo dục có thể lợi dụng sự phân định giữa hai loại hình hoạt động để chuyển hoạt động giáo dục tăng cường sang hoạt động theo nhu cầu nhằm thu phí. Theo bà, cần có những giải pháp gì để ngăn chặn tình trạng này, đồng thời bảo đảm Thông tư được thực hiện thực chất và hiệu quả?
PGS.TS Bùi Thị An: Để chủ trương đi vào thực tiễn, theo tôi cần quan tâm đến một số điều kiện bảo đảm thực hiện:
Trước hết là nguồn lực tài chính, hoạt động giáo dục tăng cường dù không thu phí từ học sinh vẫn cần kinh phí để tổ chức, duy trì. Trong bối cảnh ngân sách dành cho giáo dục còn hạn chế, Nhà nước cần có cơ chế phân bổ và hỗ trợ nguồn lực phù hợp để các trường có đủ điều kiện triển khai. Nếu không được bảo đảm về kinh phí, quy định dù đúng đắn cũng khó phát huy hiệu quả, thậm chí có thể khiến cơ hội tiếp cận giữa học sinh ở các địa bàn tiếp tục có sự chênh lệch.
Bên cạnh đó, cần có hướng dẫn cụ thể và cơ chế quản lý minh bạch để phân biệt hoạt động giáo dục tăng cường với hoạt động dạy thêm, học thêm có thu phí. Đây là vấn đề cần đặc biệt lưu ý, bởi nếu không có tiêu chí rõ ràng, các trường có thể lẫn lộn giữa hai loại hình, dẫn đến tình trạng hoạt động giáo dục tăng cường bị biến tướng thành hoạt động thu phí. Khi đó, những gia đình khó khăn vẫn sẽ là nhóm chịu thiệt thòi.
Một vấn đề khác là trách nhiệm và chế độ đối với đội ngũ giáo viên. Khi giao thêm nhiệm vụ tổ chức hoạt động giáo dục tăng cường cho nhà trường, cần tính toán hợp lý khối lượng công việc, thời gian và điều kiện làm việc của giáo viên. Nhà nước và các cơ sở giáo dục cần có cơ chế phù hợp để thầy cô có đủ nguồn lực thực hiện nhiệm vụ, tránh tình trạng tăng trách nhiệm nhưng không được bảo đảm tương xứng về thời gian và điều kiện vật chất.
Ngoài ra, công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát cần được thực hiện thường xuyên, chặt chẽ. Bộ GD-ĐT cần theo dõi việc triển khai tại các địa phương, cơ sở giáo dục; kịp thời phát hiện những nơi thực hiện chưa đúng để có biện pháp chấn chỉnh. Việc giám sát cũng cần có sự tham gia của hội đồng trường, phụ huynh và học sinh nhằm tăng tính công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện.
Đối với nguy cơ một số cơ sở giáo dục tìm cách chuyển hoạt động giáo dục tăng cường sang hoạt động theo nhu cầu để thu phí, tôi cho rằng cần đặc biệt đề cao trách nhiệm của người đứng đầu. Hiệu trưởng phải là người chịu trách nhiệm trực tiếp về việc tổ chức các hoạt động trong nhà trường, bảo đảm không có sự nhập nhằng giữa hai loại hình. Nếu xảy ra sai phạm, trách nhiệm trước hết phải được xác định rõ ở người đứng đầu cơ sở giáo dục.
Cùng với đó, cần phát huy vai trò giám sát của hội đồng trường, phụ huynh, học sinh và các tổ chức có liên quan. Tôi cũng đề xuất cần có hoạt động đánh giá sau khoảng ba tháng triển khai, tổng hợp kết quả và báo cáo Chính phủ để kịp thời nhìn nhận những điểm đã làm được, những bất cập phát sinh và có điều chỉnh phù hợp. Bởi một chủ trương dù đúng đắn đến đâu nhưng nếu thiếu cơ chế giám sát và điều kiện thực hiện thì khi đi vào thực tế vẫn có thể không đạt được hiệu quả như mong muốn.
- Trân trọng cảm ơn bà!