Xây dựng tiêu chí phân bổ nguồn lực phù hợp với đặc thù từng địa bàn
Thảo luận tại Tổ 8 gồm Đoàn ĐBQH TP. Cần Thơ và tỉnh Sơn La chiều 5/11, các ĐBQH đề nghị xác định rõ mục tiêu, lượng hóa chỉ tiêu phòng, chống ma túy, đồng thời xây dựng tiêu chí phân bổ nguồn lực phù hợp với đặc thù từng địa bàn, nhất là vùng miền núi, biên giới, vùng đặc biệt khó khăn. Hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia cần được đo bằng những chuyển biến thực chất tại cơ sở.
.jpg)
Xác định mục tiêu cụ thể, phân bổ nguồn lực đúng địa bàn
Thảo luận tại tổ, ĐBQH Hoàng Văn Nghiệm (Sơn La) tán thành sự cần thiết triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy và tội phạm giai đoạn 2026 – 2035, đồng thời đề nghị bổ sung một số nội dung để đánh giá đầy đủ thực trạng và xác định rõ mục tiêu phấn đấu.
Từ thực tiễn địa phương, đại biểu cho rằng, tỷ lệ tái nghiện sau cai vẫn là vấn đề đáng quan tâm, cần được phản ánh đầy đủ trong báo cáo đánh giá. Bởi để không tái nghiện, người sau cai không chỉ cần bản lĩnh, quyết tâm mà còn phải có điều kiện sống và thu nhập ổn định. Nếu thiếu những điều kiện này, nguy cơ tái nghiện rất lớn.
Do vậy, đại biểu đề nghị rà soát, bổ sung số liệu về kết quả dạy nghề, đào tạo và giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện. Tại Dự án 5 về nâng cao hiệu quả công tác cai nghiện ma túy và quản lý sau cai, Chương trình đặt mục tiêu 100% người nghiện ma túy, người sau cai nghiện và gia đình được tiếp cận chính sách, pháp luật, thông tin về hệ thống dịch vụ cai nghiện, quản lý, hỗ trợ xã hội; 90% người sau cai nghiện được hỗ trợ phòng, chống tái nghiện và hòa nhập cộng đồng.

Tuy nhiên, theo đại biểu, cần làm rõ hơn kết quả hỗ trợ học nghề, tạo việc làm, bởi đây là điều kiện quan trọng giúp người sau cai ổn định cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng và hạn chế nguy cơ tái nghiện.
Về các mục tiêu cụ thể, đại biểu cơ bản đồng tình với chỉ tiêu phấn đấu hằng năm giảm 10% số vụ tội phạm về trật tự xã hội, giảm số người nghiện ma túy, người sử dụng trái phép chất ma túy; đến năm 2030, ít nhất 50% số xã, phường, thị trấn, đặc khu trên toàn quốc không có ma túy.
Tuy nhiên, đại biểu đề nghị lượng hóa mục tiêu giảm số người nghiện và người sử dụng trái phép chất ma túy thành chỉ tiêu cụ thể, phấn đấu hàng năm giảm từ 5% trở lên. Bởi, việc xác định rõ mức phấn đấu sẽ tạo sự đồng bộ giữa mục tiêu hàng năm và mục tiêu đến năm 2030, đồng thời có cơ sở đánh giá kết quả thực hiện.
.jpg)
Theo đại biểu, đích đến của chương trình không chỉ là hỗ trợ các đối tượng thụ hưởng mà quan trọng hơn là giải quyết căn cơ vấn đề ma túy, vừa ngăn chặn nguồn cung, vừa kéo giảm nguồn cầu. Khi còn nhu cầu thì vẫn còn nguồn cung; nguồn cung thuận lợi lại tiếp tục thúc đẩy nhu cầu gia tăng, nhất là khi hoạt động này mang lại lợi nhuận cao. Do vậy, cần có hệ thống giải pháp toàn diện, đồng bộ, tập trung đồng thời vào cả hai phía cung và cầu để nâng cao hiệu quả phòng, chống ma túy bền vững.
Quan tâm đến hiệu quả phòng, chống ma túy và tội phạm tại các địa bàn khó khăn, ĐBQH Quàng Văn Hương (Sơn La) lưu ý, các địa bàn miền núi, biên giới thường có diện tích rộng, dân cư phân tán, giao thông khó khăn, năng lực ngân sách hạn chế, trong khi yêu cầu phòng, chống ma túy và tội phạm xuyên biên giới rất lớn. "Nếu chỉ căn cứ vào dân số, số vụ việc hoặc quy mô đối tượng quản lý để phân bổ kinh phí thì chưa phản ánh đầy đủ mức độ khó khăn và yêu cầu nhiệm vụ của từng địa bàn".
Do vậy, đại biểu đề nghị, Chính phủ cần làm rõ cơ sở xác định nhu cầu vốn, tiêu chí ưu tiên và mức hỗ trợ từ ngân sách Trung ương; tính đến đặc thù địa phương biên giới, mức độ phức tạp về ma túy, tội phạm, khả năng tự cân đối ngân sách và mức thiếu hụt các dịch vụ thiết yếu. Đặc biệt, cần có cơ chế hỗ trợ rõ ràng đối với xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, tránh phân bổ bình quân, cào bằng.
.jpg)
Đánh giá bằng chuyển biến thực chất tại cơ sở
Về mục tiêu, chỉ tiêu đánh giá kết quả chương trình, đại biểu Quàng Văn Hương cơ bản thống nhất với dự thảo Nghị quyết, nhưng đề nghị làm rõ hơn các chỉ tiêu dành cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là xã biên giới, xã đặc biệt khó khăn.
Đây là những địa bàn có đặc thù về địa hình, dân cư, điều kiện kinh tế - xã hội, khả năng tiếp cận dịch vụ công và năng lực tổ chức thực hiện. Do vậy, nếu chỉ sử dụng các chỉ tiêu chung trên phạm vi cả nước sẽ khó đánh giá đúng hiệu quả tại những địa bàn này.
Đại biểu phân tích, tỷ lệ người được tuyên truyền, phổ biến pháp luật hoặc tiếp cận dịch vụ cai nghiện có thể đạt yêu cầu chung nhưng chưa phản ánh đầy đủ trở ngại về khoảng cách địa lý, ngôn ngữ, điều kiện đi lại và khả năng tiếp cận thực tế của người dân. Đặc biệt, tại những nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số chưa thông thạo tiếng phổ thông, nhận thức pháp luật còn hạn chế, cần có cách đánh giá phù hợp.

Do đó, cần nghiên cứu bổ sung các chỉ số theo dõi, đánh giá được phân tách theo vùng, địa bàn và nhóm đối tượng; trong đó chú trọng tỷ lệ người dân được tiếp cận thông tin, trợ giúp pháp lý, dịch vụ y tế, cai nghiện và hỗ trợ sau cai nghiện. Đồng thời, phải làm rõ số liệu đầu kỳ, phương pháp tính, cơ quan chịu trách nhiệm và khả năng thu thập thông tin của chính quyền cơ sở, tránh đặt ra chỉ tiêu vượt quá năng lực hoặc tạo áp lực thành tích.
Theo đại biểu, hiệu quả chương trình phải được đánh giá bằng sự chuyển biến thực chất về an ninh, trật tự và khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân, không phải bằng số lượng hoạt động, công trình hay tỷ lệ giải ngân.
Bên cạnh đó, đại biểu Quàng Văn Hương cũng đề nghị cần ưu tiên các hình thức trợ giúp pháp lý lưu động, truyền thông trực tiếp, tư vấn và hỗ trợ cai nghiện phù hợp tại cộng đồng, thay vì chỉ tổ chức tại các cơ sở tập trung khiến người dân vùng cao, biên giới khó tiếp cận. Đồng thời, làm rõ cơ chế kết nối giữa cơ sở cai nghiện, y tế, chính quyền và các tổ chức xã hội; quan tâm hỗ trợ học nghề, sinh kế gắn với chính sách giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Theo đại biểu, nguồn lực và các chỉ tiêu đánh giá kết quả tiếp cận tại vùng khó khăn cũng cần được xác định cụ thể, bảo đảm người dân thực sự được thụ hưởng chính sách.