Diễn đàn Quốc hội

Thông điệp từ Hiến pháp năm 1946:Xây dựng Nhà nước đủ năng lực hành động, trách nhiệm trước Nhân dân

PGS.TS. Đặng Minh Tuấn, Chủ nhiệm Khoa Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội • 05/11/2026 18:14

Sau 80 năm, thông điệp bền vững của Hiến pháp năm 1946 không chỉ là quyền lực thuộc về Nhân dân, mà còn là quyền lực ấy phải được tổ chức, kiểm soát và thực thi vì con người. Những dấu ấn của chủ nghĩa hiến pháp trong Hiến pháp năm 1946 tiếp tục gợi mở yêu cầu hoàn thiện thể chế hôm nay: xây dựng một Nhà nước đủ năng lực hành động, đồng thời vận hành trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, chịu sự giám sát và có trách nhiệm trước Nhân dân.

Kỷ niệm 80 năm Quốc hội thông qua bản Hiến pháp đầu tiên, việc nhìn lại Hiến pháp năm 1946 có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận diện những giá trị đối với lịch sử lập hiến Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh Đảng ta đang chủ trương sửa đổi tổng thể Hiến pháp năm 2013.

hien-phap-dau-tien-cua-nuoc-viet-nam-dan-chu-cong-hoa.gif
Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ảnh tư liệu triển lãm

Một trong những giá trị nổi bật của Hiến pháp năm 1946 là không chỉ xác lập nền tảng tổ chức quyền lực nhà nước mà còn thể hiện tư tưởng giới hạn quyền lực để bảo vệ quyền và tự do của con người. Cốt lõi của chủ nghĩa hiến pháp là quyền lực nhà nước phải có nguồn gốc chính đáng, được giới hạn và kiểm soát bởi Hiến pháp nhằm bảo vệ các quyền và tự do của con người. Từ góc nhìn đó, Hiến pháp năm 1946 đã chứa đựng những lựa chọn lập hiến đáng chú ý.

Nguyên tắc chủ quyền tối cao của Nhân dân trong lập hiến

Trước hết là tư tưởng chủ quyền Nhân dân. Điều thứ nhất khẳng định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam”. Tư tưởng này không chỉ dừng ở tuyên bố mà được thể chế hóa thông qua việc xác lập chính thể dân chủ cộng hòa, chế độ bầu cử phổ thông đầu phiếu và các hình thức để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ. Công dân cũng được trao các quyền tự do, dân chủ, trong đó có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những vấn đề quan hệ đến vận mệnh quốc gia.

Một dấu ấn đáng chú ý khác là cách thức tổ chức, phân định chức năng và ràng buộc quyền lực nhà nước. Hiến pháp quy định vị trí, thẩm quyền của Nghị viện nhân dân, Chính phủ và Tòa án; đồng thời thiết lập những cơ chế trách nhiệm và kiểm soát nhất định giữa các cơ quan. Hiến pháp cũng quy định trách nhiệm của Chính phủ trước Nghị viện, cơ chế biểu quyết tín nhiệm Nội các và quyền của Chủ tịch nước yêu cầu Nghị viện thảo luận lại một đạo luật. Điều thứ 69 quy định: “Trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp”. Những quy định ấy cho thấy quyền lực nhà nước không chỉ cần được tổ chức, phân định thẩm quyền mà còn phải được đặt trong những khuôn khổ pháp lý và cơ chế trách nhiệm nhất định.

quoc-hoi-khoa-i-thao-luan-ve-du-thao-hien-phap-tai-ky-hop-thu-2.png
Quốc hội khóa I thảo luận về Dự thảo Hiến pháp tại Kỳ họp thứ Hai. Ảnh tư liệu triển lãm

Hiến pháp năm 1946 cũng dành vị trí quan trọng cho các quyền và tự do: bình đẳng trước pháp luật, bình đẳng nam nữ, tự do ngôn luận, xuất bản, tổ chức, hội họp, tín ngưỡng, đi lại, bất khả xâm phạm về thân thể và nhà ở. Đây không chỉ là danh mục quyền công dân, mà còn thể hiện sự thừa nhận những không gian tự do mà quyền lực công phải tôn trọng, ngay cả khi Nhà nước đang đứng trước nhu cầu quản lý và huy động nguồn lực rất lớn. Cùng với đó, thủ tục sửa đổi Hiến pháp đặc biệt tại Điều thứ 70, theo đó “Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết”. Quy định này gián tiếp ghi nhận nguyên tắc chủ quyền tối cao của Nhân dân trong lập hiến cũng như nguyên tắc về tính tối cao của Hiến pháp.

Tiếp nhận phù hợp, chọn lọc các nguồn tư tưởng

Sau Cách mạng tháng Tám, chính quyền cách mạng vừa phải bảo vệ nền độc lập, vừa phải củng cố tính chính danh và xây dựng nền tảng pháp lý cho nhà nước mới. Tổng tuyển cử, sự ra đời của Quốc hội và việc thông qua Hiến pháp là những bước đi quan trọng nhằm xác lập quyền lực nhà nước trên cơ sở sự lựa chọn và ủy quyền của Nhân dân. Vì vậy, tư tưởng chủ quyền Nhân dân gắn trực tiếp với yêu cầu kiến tạo một chính quyền dân chủ.

Đồng thời, đất nước cần tập hợp sức mạnh của nhiều tầng lớp, tôn giáo, lực lượng và khuynh hướng chính trị để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, bảo vệ nền độc lập vừa giành được. Hiến pháp phải tạo lập khuôn khổ chung cho một quốc gia vừa bước ra khỏi chế độ thuộc địa, phong kiến. Tinh thần đoàn kết, việc ghi nhận các quyền tự do và cách thức tổ chức bộ máy nhà nước vì thế xuất phát từ yêu cầu chính trị - pháp lý thực tiễn, chứ không đơn thuần là sự tiếp nhận một học thuyết từ bên ngoài.

Hiến pháp năm 1946 thể hiện sự gặp gỡ giữa truyền thống yêu nước, tư tưởng lập hiến Việt Nam đầu thế kỷ XX, những giá trị dân chủ, pháp quyền tiến bộ của thế giới và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, pháp luật. Điểm đặc sắc là sự tiếp thu có chọn lọc, vận dụng sáng tạo các giá trị đó vào điều kiện lịch sử, chính trị và xã hội cụ thể của Việt Nam.

1(3).jpg
PGS.TS. Đặng Minh Tuấn, Chủ nhiệm Khoa Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong bối cảnh đất nước đứng trước nguy cơ chiến tranh, yêu cầu củng cố một chính quyền đủ năng lực bảo vệ độc lập, thống nhất đất nước là hết sức cấp thiết, Hiến pháp vẫn dành vị trí quan trọng cho việc ghi nhận quyền tự do của công dân, xác định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và đặt hoạt động công quyền trong khuôn khổ pháp luật. Đó là lựa chọn có ý nghĩa lâu dài: chính quyền đủ năng lực bảo vệ độc lập, tổ chức và điều hành đất nước cũng phải được xây dựng trên nền tảng dân chủ, pháp luật và trách nhiệm trước Nhân dân.

Di sản đối với tư duy, thực tiễn lập hiến, lập pháp hiện nay

Di sản của Hiến pháp năm 1946 trước hết nằm ở tư duy: Hiến pháp vừa tạo cơ sở pháp lý cho Nhà nước thực hiện quyền lực, vừa xác lập những giới hạn nhằm bảo vệ quyền và tự do của người dân. Những giá trị đó cần tiếp tục được nghiên cứu, kế thừa có chọn lọc trong quá trình hoàn thiện Hiến pháp và hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

Trước hết, chủ trương của Đảng về sửa đổi tổng thể Hiến pháp năm 2013 đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới đặt ra yêu cầu tiếp tục nghiên cứu, vận dụng những giá trị lập hiến có ý nghĩa bền vững. Trong đó, Hiến pháp năm 1946 là một nguồn tham khảo có giá trị cả về tư tưởng và phương pháp lập hiến. Đáng chú ý là tinh thần dân chủ, sự tham gia của Nhân dân, không gian thảo luận và trách nhiệm tiếp thu, giải trình đối với các ý kiến đóng góp thực chất trong quá trình xây dựng Hiến pháp.

Tiếp theo, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo đảm nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quyền lực nhà nước do Nhân dân làm chủ, được Nhân dân trao quyền và phải được thực thi trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật, chịu sự giám sát và kiểm soát. Pháp luật phải thể hiện ý chí, nguyện vọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; đồng thời, mọi cá nhân, tổ chức, kể cả cơ quan nhà nước, đều phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Nói cách khác, không một chủ thể nào được đứng trên Hiến pháp và pháp luật; Hiến pháp có hiệu lực pháp lý cao nhất, là cơ sở để xác lập và kiểm soát việc thực thi quyền lực nhà nước.

Cùng với đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp, bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và thực thi đầy đủ các quyền con người, quyền công dân được ghi nhận. Cần nghiên cứu hoàn thiện các cơ chế tài phán, bảo vệ quyền hiến định, xử lý hành vi xâm phạm quyền con người, quyền công dân; đồng thời nâng cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền đó. Đặc biệt, phải thực hiện nghiêm nguyên tắc tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013: quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng.

Trong bối cảnh hiện nay, những giá trị đó tiếp tục có ý nghĩa đối với việc hoàn thiện cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực theo Hiến pháp. Hoạt động lập pháp không chỉ cần trao thẩm quyền để các cơ quan nhà nước giải quyết công việc, mà còn phải quy định rõ điều kiện thực hiện, nguồn lực, trách nhiệm giải trình và cơ chế kiểm tra, giám sát, xử lý khi quyền lực bị sử dụng sai mục đích. Thẩm quyền càng lớn, yêu cầu kiểm soát càng phải chặt chẽ. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong quá trình đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Phân cấp, phân quyền phải đi đôi với phân định rõ trách nhiệm, bảo đảm nguồn lực thực hiện và kiểm soát quyền lực, không để khoảng trống pháp lý hoặc buông lỏng trách nhiệm.

Sau 80 năm, thông điệp bền vững của Hiến pháp năm 1946 không chỉ là quyền lực thuộc về Nhân dân, mà còn là quyền lực ấy phải được tổ chức, kiểm soát và thực thi vì con người. Những giá trị cốt lõi của chủ nghĩa hiến pháp tiếp tục gợi mở yêu cầu hoàn thiện thể chế hôm nay: xây dựng một Nhà nước đủ năng lực hành động, đồng thời vận hành trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, chịu sự giám sát và có trách nhiệm trước Nhân dân.

PGS.TS. Đặng Minh Tuấn, Chủ nhiệm Khoa Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội