Cà Mau đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng tầm chuỗi giá trị tôm nước lợ
Cà Mau xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực then chốt để nâng cao chất lượng vùng nguyên liệu; thúc đẩy chế biến sâu và gia tăng sức cạnh tranh của ngành tôm giai đoạn 2026-2030.

Khai thác lợi thế, tổ chức lại vùng nguyên liệu tôm
Ngành tôm giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của tỉnh Cà Mau, với lợi thế về diện tích nuôi, điều kiện sinh thái đa dạng và hệ thống doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản quy mô lớn. Sau hợp nhất, tỉnh có khoảng 417.800ha diện tích nuôi tôm, phát triển nhiều mô hình sản xuất như tôm - rừng, tôm - lúa, quảng canh cải tiến, thâm canh và siêu thâm canh.
Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Lê Văn Sử, trong 9 tháng đầu năm 2026, sản lượng tôm của tỉnh đạt 454.065 tấn, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm 2025. Sản lượng chế biến tôm và thủy sản khác đạt 305.288 tấn, tăng 16,8%; kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 1,805 tỷ USD. Những kết quả này tiếp tục khẳng định vai trò của ngành tôm đối với sản xuất, chế biến và xuất khẩu của địa phương.
Tuy nhiên, ngành tôm vẫn đối mặt với không ít thách thức. Nguồn tôm bố mẹ và một phần giống chất lượng cao còn phụ thuộc bên ngoài; dịch bệnh, nhất là bệnh đốm trắng, hoại tử gan tụy cấp tính cùng các bệnh mới phát sinh, làm gia tăng yêu cầu về năng lực xét nghiệm, giám sát và cảnh báo sớm. Trong khi đó, hạ tầng cấp, thoát nước và quan trắc môi trường tại một số vùng nuôi chưa đồng bộ; sản xuất còn phân tán, liên kết giữa người nuôi, hợp tác xã và doanh nghiệp chưa thực sự bền vững.
Từ thực tế này, Cà Mau xác định phát triển ngành tôm giai đoạn 2026-2030 không chỉ tập trung tăng sản lượng mà phải chuyển mạnh sang nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng; giảm chi phí, rủi ro sản xuất, ổn định vùng nguyên liệu và nâng cao hiệu quả chế biến, xuất khẩu. Trong đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trực tiếp giải quyết những điểm nghẽn của chuỗi giá trị.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là tổ chức lại vùng nguyên liệu tôm chất lượng cao theo chuỗi giá trị. Tỉnh sẽ rà soát, phân vùng nuôi theo hệ sinh thái, điều kiện hạ tầng và khả năng kiểm soát nguồn nước; ưu tiên phát triển các mô hình tôm - rừng, tôm - lúa, tôm sú có chứng nhận và vùng nuôi thâm canh, siêu thâm canh đáp ứng yêu cầu kỹ thuật.
Đáng chú ý, trong giai đoạn 2026-2027, Cà Mau dự kiến lựa chọn từ 3-5 vùng hoặc cụm nuôi để thí điểm tổ chức sản xuất theo chuỗi. Các vùng thí điểm sẽ xác định rõ hợp tác xã, doanh nghiệp tham gia liên kết, quy trình kỹ thuật, dữ liệu vùng nuôi, hợp đồng tiêu thụ và các chỉ tiêu đánh giá như tỷ lệ sống, năng suất, chi phí, chất lượng sản phẩm. Kết quả thực hiện sẽ là cơ sở để đánh giá, điều chỉnh và xem xét nhân rộng.
Song song với tổ chức lại vùng nguyên liệu, tỉnh đặt mục tiêu từng bước làm chủ công nghệ sản xuất giống tôm chất lượng cao, sạch bệnh và thích ứng với điều kiện nuôi. Cà Mau đề xuất ưu tiên nghiên cứu gia hóa, chọn tạo tôm sú và tôm thẻ chân trắng bố mẹ; nâng cao chất lượng di truyền về sinh trưởng, khả năng chống chịu bệnh, đồng thời tăng cường kiểm soát nguồn giống từ cơ sở sản xuất đến vùng nuôi.
Trong nhiệm vụ này, Khu Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phát triển tôm Bạc Liêu được xác định là đầu mối kết nối với các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp trong khảo nghiệm, đánh giá, tiếp nhận và chuyển giao công nghệ.
Chuyển đổi số, chế biến sâu để gia tăng giá trị xuất khẩu
Cùng với nâng cao chất lượng con giống và tổ chức vùng nguyên liệu, Cà Mau xác định tăng cường năng lực xét nghiệm bệnh tôm, quan trắc môi trường và quản trị số vùng nuôi là nhiệm vụ quan trọng.
Tỉnh ưu tiên đầu tư có trọng điểm cho năng lực phát hiện, giám sát và cảnh báo sớm, qua đó chủ động phòng, chống dịch bệnh và hạn chế thiệt hại cho người nuôi. Định hướng đặt ra là từng bước kết nối dữ liệu xét nghiệm, quan trắc môi trường với bản đồ số vùng nuôi, nhật ký điện tử, thông tin về con giống và sản lượng. Việc hình thành hệ thống dữ liệu liên thông sẽ hỗ trợ cơ quan quản lý, người nuôi và doanh nghiệp theo dõi sát tình hình sản xuất, kịp thời đưa ra quyết định dựa trên dữ liệu.
Ở khâu nuôi thương phẩm, tỉnh khuyến khích đổi mới công nghệ thông qua các mô hình nuôi nhiều giai đoạn, tuần hoàn nước, quản lý thức ăn tự động và giải pháp an toàn sinh học phù hợp với điều kiện từng vùng. Việc lựa chọn công nghệ phải dựa trên đánh giá hiệu quả thực tế, khả năng tiếp cận của người nuôi và hiệu quả kinh tế trước khi nhân rộng. Đặc biệt, Cà Mau định hướng gắn đổi mới công nghệ nuôi với truy xuất nguồn gốc, liên kết thị trường và đổi mới công nghệ chế biến. Đây là những yếu tố quan trọng để nâng cao giá trị sản phẩm, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và xuất khẩu.
Để hiện thực hóa các mục tiêu, UBND tỉnh Cà Mau kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ ưu tiên xem xét, đặt hàng các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia về gia hóa, chọn tạo tôm bố mẹ sạch bệnh, tăng trưởng tốt và thích nghi với các hệ sinh thái nuôi của tỉnh.
Đồng thời, hỗ trợ nghiên cứu công nghệ sinh học, chế phẩm vi sinh, quản lý dịch bệnh và công nghệ nuôi tuần hoàn. Tỉnh cũng đề nghị hỗ trợ nâng cao năng lực xét nghiệm bệnh tôm, quan trắc và cảnh báo môi trường vùng nuôi; kết nối các hệ thống này với nền tảng dữ liệu số ngành nông nghiệp. Việc đầu tư cần gắn với rà soát cơ sở vật chất, thiết bị và dữ liệu hiện có, ưu tiên những hạng mục còn thiếu, tránh trùng lặp, bảo đảm khả năng vận hành và khai thác hiệu quả.
Đối với nguồn lực thực hiện, Cà Mau kiến nghị Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công Thương nghiên cứu cơ chế huy động, lồng ghép nguồn lực Trung ương, địa phương và doanh nghiệp để đầu tư hạ tầng vùng nguyên liệu, khu giống, chế biến sâu và logistics lạnh.
Tỉnh cũng đề xuất khuyến khích cơ chế đặt hàng nghiên cứu gắn với doanh nghiệp tiếp nhận, hợp tác xã tham gia và chỉ tiêu đầu ra cụ thể; hỗ trợ triển khai thí điểm từ 3-5 vùng hoặc cụm nuôi trong giai đoạn 2026-2027 làm cơ sở đánh giá hiệu quả và nhân rộng.
Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Lê Văn Sử, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong ngành tôm phải tạo ra kết quả cụ thể, có thể đo lường và mang lại hiệu quả thiết thực. Tỉnh cam kết chủ động triển khai các nhiệm vụ thuộc thẩm quyền, tăng cường phối hợp với các bộ, ngành, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và hợp tác xã; đánh giá kết quả dựa trên hiệu quả thực tế, thu nhập của người nuôi và sức cạnh tranh của tôm Cà Mau.