Xác định rõ người có thẩm quyền quyết định phạm vi bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia
Tham gia thảo luận về dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, ĐBQH Lưu Nam Tiến (Hà Nội) cho rằng thẩm định là hoạt động đánh giá, không đồng nhất với thẩm quyền quyết định. Vì vậy, cần xác định rõ người có thẩm quyền quyết định phạm vi bảo vệ, trách nhiệm của cơ quan thẩm định và cơ chế điều chỉnh phạm vi bảo vệ khi cần thiết.
Bảo đảm đầy đủ cơ chế bảo vệ công trình quan trọng
Qua nghiên cứu dự thảo Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, ĐBQH Lưu Nam Tiến cơ bản tán thành sự cần thiết ban hành Luật nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý, nâng cao hiệu quả bảo vệ các công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia trước những nguy cơ ngày càng đa dạng, phức tạp.

Về phạm vi điều chỉnh và chế độ pháp lý đối với công trình thuộc cơ quan, đơn vị quốc phòng quản lý, quy định tại khoản 2 Điều 1 và khoản 5 Điều 2 dự thảo Luật, đại biểu thống nhất với việc loại trừ các công trình quốc phòng, khu quân sự đã thuộc phạm vi điều chỉnh của luật chuyên ngành nhằm tránh chồng chéo trong quản lý, bảo vệ. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 1 loại trừ theo tính chất, chế độ pháp lý của công trình, trong khi khoản 5 Điều 2 lại loại trừ theo chủ thể quản lý. Đây là hai căn cứ không phải lúc nào cũng đồng nhất.
Thực tiễn kết hợp kinh tế với quốc phòng cho thấy, có những công trình do đơn vị, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng quản lý nhưng phục vụ hoạt động kinh tế, dân sự, không đương nhiên là công trình quốc phòng, khu quân sự.
Đáng chú ý, Pháp lệnh Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia năm 2007 đã có cơ chế thẩm định, bảo vệ đối với công trình quan trọng thuộc Bộ Quốc phòng quản lý. Như vậy, pháp luật hiện hành đã có cơ chế bảo vệ đối với nhóm công trình này. Khi xây dựng Luật mới, cần tiếp tục bảo đảm tính đầy đủ, thống nhất của chế độ pháp lý áp dụng.
Công trình có chức năng dân sự do đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng quản lý, không phải công trình quốc phòng, khu quân sự, chưa được xác định là công trình lưỡng dụng nhưng đáp ứng tiêu chí tại Điều 7 dự thảo Luật, sẽ được xem xét đưa vào Danh mục và áp dụng chế độ bảo vệ đặc thù theo cơ chế nào? - đại biểu đặt vấn đề.
Theo ĐBQH Lưu Nam Tiến, nếu chỉ căn cứ vào chủ thể quản lý để loại trừ mà chưa làm rõ chế độ bảo vệ tương ứng, có thể dẫn đến cách hiểu không thống nhất, thậm chí bỏ sót công trình cần được bảo vệ. Vì vậy, đại biểu đề nghị chỉnh lý khoản 5 Điều 2 theo hướng xác định phạm vi loại trừ trên cơ sở tính chất, chức năng, mục đích sử dụng và chế độ pháp lý của công trình, thay vì chỉ căn cứ vào chủ thể quản lý. Công trình đã có chế độ bảo vệ riêng tiếp tục thực hiện theo pháp luật chuyên ngành; công trình chưa thuộc chế độ đó nhưng đáp ứng tiêu chí của Luật này cần có cơ sở để xem xét đưa vào Danh mục và áp dụng biện pháp bảo vệ phù hợp.
Quy định chặt chẽ điều kiện, giới hạn và cơ chế kiểm soát biện pháp bảo vệ đặc biệt
Về cơ chế áp dụng biện pháp bảo vệ trong trường hợp đặc biệt cấp thiết, quy định tại khoản 5 Điều 10 và khoản 2 Điều 28 dự thảo Luật, đại biểu tán thành việc quy định thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ quyết định áp dụng các biện pháp bảo vệ mà pháp luật chưa quy định trong trường hợp đặc biệt cấp thiết. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra không chỉ là xác định thẩm quyền quyết định mà còn phải làm rõ điều kiện, giới hạn và cơ chế kiểm soát việc thực hiện thẩm quyền đó.
Đại biểu dẫn chiếu Điều 13 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025 đã quy định thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ áp dụng biện pháp cấp bách. Trong khi đó, Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025 đã xác lập các nguyên tắc về tính cần thiết, tương xứng và chấm dứt biện pháp khi không còn căn cứ áp dụng, kể cả đối với biện pháp chưa được pháp luật quy định.
Do đó, cần làm rõ mối quan hệ giữa cơ chế quyết định đặc biệt cấp thiết tại dự thảo Luật với pháp luật về tình trạng khẩn cấp, bảo đảm thống nhất về điều kiện, thẩm quyền và trách nhiệm kiểm soát, tránh phát sinh cách hiểu khác nhau.
Mặt khác, các biện pháp bảo vệ đặc biệt có thể tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Vì vậy, việc áp dụng phải bảo đảm yêu cầu tại Điều 14 Hiến pháp về hạn chế quyền con người, quyền công dân.
Từ những phân tích trên, đại biểu đề nghị tiếp tục chỉnh lý, đồng bộ khoản 5 Điều 10 và khoản 2 Điều 28 theo hướng xác định rõ căn cứ, điều kiện, phạm vi, thời hạn áp dụng; trách nhiệm báo cáo, kiểm tra sau quyết định, đánh giá lại sự cần thiết và chấm dứt biện pháp khi căn cứ áp dụng không còn. Qua đó, bảo đảm thống nhất với Hiến pháp, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tình trạng khẩn cấp và pháp luật có liên quan.
Xác lập nguyên tắc giới hạn phạm vi bảo vệ ngay trong Luật
Về xác định phạm vi bảo vệ đối với công trình chưa có quy định của pháp luật chuyên ngành, tại khoản 1 Điều 27 dự thảo Luật, ĐBQH Lưu Nam Tiến tán thành việc ưu tiên áp dụng pháp luật chuyên ngành để xác định phạm vi bảo vệ công trình, nhằm bảo đảm tính thống nhất, tránh chồng chéo giữa các luật. Tuy nhiên, đối với trường hợp pháp luật chuyên ngành chưa quy định, dự thảo xác định phạm vi khu vực bảo vệ, hành lang bảo vệ theo đề nghị của Hội đồng thẩm định hoặc cơ quan thẩm định đối với từng loại công trình.

Theo đại biểu, vấn đề cần làm rõ không chỉ là cơ quan nào đề nghị mà quan trọng hơn là căn cứ, nguyên tắc giới hạn và thẩm quyền quyết định phạm vi bảo vệ. Ngoài ra, việc xác lập hành lang bảo vệ không đơn thuần là hoạt động kỹ thuật mà còn có hệ quả pháp lý trực tiếp đối với việc quản lý, sử dụng đất, hoạt động xây dựng, cư trú, sản xuất, kinh doanh và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Nếu Luật chưa xác định những căn cứ và nguyên tắc giới hạn cơ bản mà chủ yếu dựa vào đề nghị của cơ quan thẩm định, có thể dẫn đến việc xác định phạm vi bảo vệ thiếu thống nhất, khó kiểm soát tính cần thiết, tương xứng giữa các công trình có tính chất tương đồng.
Bên cạnh đó, thẩm định là hoạt động đánh giá, đề nghị, không đồng nhất với thẩm quyền quyết định. Vì vậy, cần xác định rõ người có thẩm quyền quyết định phạm vi bảo vệ, trách nhiệm của cơ quan thẩm định và cơ chế điều chỉnh phạm vi bảo vệ khi cần thiết.
Vì vậy, ĐBQH Lưu Nam Tiến đề nghị hoàn thiện khoản 1 Điều 27 theo hướng xác lập ngay trong Luật các căn cứ và nguyên tắc giới hạn phạm vi bảo vệ, trên cơ sở tính chất, chức năng của công trình, mức độ nguy cơ, yêu cầu bảo vệ và điều kiện thực tế; bảo đảm phạm vi được xác định thực sự cần thiết, tương xứng, không mở rộng vượt quá yêu cầu bảo vệ. Đồng thời, cần quy định rõ thẩm quyền quyết định trên cơ sở đề nghị của cơ quan thẩm định; giao Chính phủ quy định chi tiết các tiêu chí, phương pháp kỹ thuật và trình tự, thủ tục thực hiện.