Từ Hiến pháp năm 1946 đến văn hóa thượng tôn pháp luật: Nền tảng tinh thần cho khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
Trong không khí cả nước hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Quốc hội thông qua Hiến pháp đầu tiên (9/11/1946 - 9/11/2026), nhìn lại bản Hiến pháp ra đời giữa những ngày đầu độc lập, chúng ta càng thấm thía một giá trị bền vững: quyền làm chủ của Nhân dân phải được khẳng định bằng Hiến pháp, được bảo đảm bằng pháp luật và được nuôi dưỡng bằng văn hóa.

Từ tinh thần năm 1946 đến khát vọng phát triển hôm nay, xây dựng văn hóa thượng tôn Hiến pháp và pháp luật chính là xây dựng nền tảng tinh thần, đạo đức và niềm tin cho một quốc gia hùng cường, văn minh, hạnh phúc.
Hiến pháp năm 1946 - từ khát vọng độc lập đến những giá trị văn hóa dân chủ
Có những dấu mốc lịch sử, càng lùi xa trong thời gian lại càng hiện rõ tầm vóc. Ngày 9/11/1946 là một dấu mốc như thế. Chỉ hơn một năm sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, trong tình thế chính quyền cách mạng còn non trẻ, vận mệnh dân tộc đứng trước muôn vàn thử thách, Quốc hội khóa I đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên với 240/242 đại biểu tán thành. Đó không chỉ là sự ra đời của một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, mà còn là lời khẳng định trang trọng trước quốc dân và thế giới: một dân tộc vừa giành lại độc lập quyết tâm kiến tạo tương lai bằng ý chí của Nhân dân và những nguyên tắc dân chủ, pháp quyền.
Một dân tộc vừa giành lại độc lập quyết tâm kiến tạo tương lai bằng ý chí của Nhân dân và những nguyên tắc dân chủ, pháp quyền.
Suy ngẫm về hoàn cảnh ấy, càng thấy rõ tầm nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau ngày Tuyên ngôn Độc lập được công bố, giữa rất nhiều công việc cấp bách về chống giặc đói, giặc dốt, bảo vệ nền độc lập, Người đã sớm đặt vấn đề tổ chức Tổng tuyển cử và xây dựng Hiến pháp. Ngày 6/1/1946, Nhân dân thực hiện quyền bầu cử để lập nên Quốc hội của mình; đến ngày 9/11/1946, Quốc hội thông qua Hiến pháp. Hai sự kiện trong cùng một năm lịch sử cho thấy một logic sâu sắc: độc lập dân tộc phải đi liền với quyền làm chủ của Nhân dân; giành được chính quyền phải đồng thời xác lập cơ sở chính đáng và khuôn khổ pháp lý để thực thi quyền lực nhà nước.
Điều làm nên sức sống của Hiến pháp năm 1946 trước hết là những giá trị nhân văn và tinh thần dân chủ được thể hiện hết sức cô đọng. Lời nói đầu xác định ba nguyên tắc: đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo; bảo đảm các quyền tự do dân chủ; thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của Nhân dân. Điều 1 khẳng định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam”. Những lời ấy, ra đời cách đây tám thập niên, vẫn gợi mở nhiều suy nghĩ cho công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền hôm nay.
Đương nhiên, điều kiện chiến tranh và hoàn cảnh lịch sử đã khiến không phải mọi thiết chế, quy định của Hiến pháp năm 1946 đều có thể được triển khai trọn vẹn. Nhưng những giá trị cốt lõi của bản Hiến pháp đã trở thành di sản chính trị, pháp lý và văn hóa đặc biệt, được kế thừa, phát triển qua các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và 2013, cùng những sửa đổi, bổ sung về sau. Giá trị lớn nhất của di sản ấy không chỉ nằm trong các điều khoản, mà còn ở một tư tưởng xuyên suốt: xây dựng đất nước phải bắt đầu từ sự tôn trọng Nhân dân, phát huy sức mạnh Nhân dân và chịu trách nhiệm trước Nhân dân.
Văn hóa thượng tôn pháp luật - sức mạnh bên trong của Nhà nước pháp quyền
Thường khi nói đến Nhà nước pháp quyền, chúng ta nghĩ tới Hiến pháp, hệ thống luật pháp, cơ chế tổ chức quyền lực, kiểm tra và giám sát. Tất cả đều rất quan trọng. Nhưng một Nhà nước pháp quyền vững mạnh còn cần một điều sâu xa hơn: tinh thần thượng tôn pháp luật phải trở thành niềm tin, thói quen, chuẩn mực ứng xử của mỗi con người và mỗi tổ chức. Nói cách khác, pháp quyền không chỉ là vấn đề của thiết chế mà còn là vấn đề của văn hóa.
Pháp luật xác lập những giới hạn, quyền và nghĩa vụ; văn hóa góp phần biến những quy định ấy thành sự lựa chọn tự giác. Có thể dùng chế tài để ngăn một hành vi vi phạm, nhưng không thể chỉ dựa vào chế tài để tạo dựng một xã hội có trách nhiệm. Khi người dân tôn trọng pháp luật không đơn thuần vì sợ bị xử phạt, mà vì hiểu đó là cách bảo vệ chính mình, tôn trọng người khác và gìn giữ lợi ích chung, lúc ấy pháp luật đã đi sâu vào đời sống như một giá trị văn hóa. Và khi cán bộ thực hiện đúng quyền hạn không chỉ vì quy trình kiểm tra, mà bởi ý thức liêm chính, trách nhiệm và danh dự công vụ, pháp quyền mới có được nền tảng đạo đức vững chắc.
Từ góc nhìn ấy, văn hóa thượng tôn pháp luật cần được vun đắp trên ít nhất ba phương diện gắn bó chặt chẽ với nhau. Trước hết là văn hóa cầm quyền, văn hóa công vụ: mọi quyết định phải đúng thẩm quyền, có căn cứ, công khai và giải trình được; quyền lực càng lớn, trách nhiệm nêu gương càng cao. Thứ hai là văn hóa công dân: hiểu quyền của mình, tôn trọng quyền của người khác, tích cực tham gia xây dựng và giám sát chính sách, không thờ ơ trước bất công nhưng cũng không hành xử ngoài khuôn khổ pháp luật. Thứ ba là văn hóa của sự công bằng: những quy tắc phải được áp dụng nhất quán, người yếu thế có cơ hội tiếp cận công lý và không ai bị bỏ lại phía sau chỉ vì thiếu thông tin hay điều kiện thực hiện quyền của mình.

Thực tế cho thấy, nếu pháp luật được ban hành nhưng quá phức tạp, chồng chéo, khó tiếp cận, người dân sẽ khó tự giác tuân thủ. Nếu việc thực thi thiếu thống nhất, thiếu công bằng hoặc chưa thực sự tôn trọng người dân, niềm tin xã hội sẽ bị bào mòn. Bởi vậy, xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật không thể chỉ dừng ở tuyên truyền để người dân “biết luật”, mà còn đòi hỏi cơ quan công quyền phải làm cho pháp luật dễ hiểu, dễ thực hiện, công bằng và đáng tin cậy. Tinh thần ấy phù hợp với Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, trong đó yêu cầu xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật.
Đặc biệt, trong xã hội số, văn hóa pháp quyền đang bước vào những không gian mới. Một bình luận trên mạng xã hội, việc sử dụng dữ liệu cá nhân, khai thác tác phẩm của người sáng tạo, ứng dụng trí tuệ nhân tạo hay tổ chức kinh doanh trên nền tảng số đều đặt ra những câu hỏi về quyền, trách nhiệm, sự công bằng và chuẩn mực ứng xử. Người trẻ hôm nay cần được giáo dục pháp luật không chỉ qua những bài học ghi nhớ điều khoản, mà qua tình huống đời sống, hoạt động trải nghiệm, tranh luận có căn cứ và kỹ năng sống có trách nhiệm trong môi trường số. Bởi thượng tôn pháp luật phải hiện diện cả trên đường phố, nơi công sở, trong trường học lẫn trên không gian mạng.
Đưa tinh thần Hiến pháp năm 1946 vào những quyết sách kiến tạo tương lai
80 năm sau bản Hiến pháp đầu tiên, đất nước đang đứng trước một giai đoạn phát triển với những thời cơ và thách thức chưa từng có. Khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, hội nhập quốc tế đang thay đổi phương thức sản xuất, tổ chức xã hội và đời sống con người. Nhiều vấn đề mới xuất hiện nhanh hơn khả năng điều chỉnh của những khuôn khổ quản lý truyền thống. Trong bối cảnh ấy, tinh thần Hiến pháp năm 1946 nhắc chúng ta rằng thể chế không chỉ giữ gìn trật tự đã có, mà còn phải mở đường cho những khả năng phát triển mới, đồng thời bảo đảm quyền con người, quyền công dân và lợi ích lâu dài của quốc gia.
Trong phát biểu tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam ngày 6/1/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy lập pháp, theo hướng kiến tạo và dẫn dắt phát triển”. Tại phiên họp ngày 28/9/2026 của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật, đồng chí tiếp tục nhấn mạnh xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật phải là một chỉnh thể thống nhất. Hai yêu cầu ấy gợi mở một chuyển động rất quan trọng: chất lượng thể chế không chỉ đo bằng số lượng văn bản được ban hành, mà phải được kiểm nghiệm bằng những điểm nghẽn được tháo gỡ, những cơ hội được mở ra và sự cải thiện thực chất trong cuộc sống của Nhân dân.

Từ kinh nghiệm hoạt động nghị trường, càng thấy rằng làm luật không thể dừng ở kỹ thuật viết điều khoản. Đằng sau mỗi chính sách là số phận con người, sự vận động của doanh nghiệp, những cơ hội của người trẻ và triển vọng phát triển của đất nước. Một quy định thiếu rõ ràng có thể làm nản lòng người muốn đổi mới; một thủ tục không cần thiết có thể trở thành rào cản với người dân; một khoảng trống pháp lý có thể khiến những sáng kiến tốt không có điều kiện phát triển. Vì vậy, tư duy lập pháp kiến tạo phải bắt đầu từ việc lắng nghe thực tiễn, nhận diện đúng vấn đề, đánh giá đầy đủ tác động và có bản lĩnh lựa chọn giải pháp vì lợi ích chung.
Ở đây, di sản dân chủ của Hiến pháp năm 1946 có ý nghĩa rất trực tiếp. Làm luật vì Nhân dân trước hết phải biết lắng nghe Nhân dân. Tiếng nói của người lao động, nông dân, trí thức, văn nghệ sĩ, doanh nghiệp, người yếu thế và thế hệ trẻ cần được tiếp nhận một cách thực chất trong quá trình xây dựng chính sách. Tham vấn không thể chỉ là một thủ tục hoàn tất hồ sơ, mà phải trở thành một phần của văn hóa lập pháp. Một đạo luật tốt không phải đạo luật né tránh ý kiến khác biệt, mà là đạo luật được xây dựng trên cơ sở đối thoại, bằng chứng, sự thận trọng và trách nhiệm giải trình.
Một đạo luật tốt không phải đạo luật né tránh ý kiến khác biệt, mà là đạo luật được xây dựng trên cơ sở đối thoại, bằng chứng, sự thận trọng và trách nhiệm giải trình.
Đối với lĩnh vực văn hóa, điều này càng có ý nghĩa đặc biệt. Phát triển công nghiệp văn hóa, bảo vệ di sản, thúc đẩy sáng tạo, bảo đảm quyền tác giả, quyền tiếp cận và thụ hưởng văn hóa không thể chỉ trông chờ vào nhiệt huyết của người làm nghề. Chúng ta cần những quy định minh bạch, dự báo được, khuyến khích sáng tạo, huy động nguồn lực xã hội nhưng vẫn bảo vệ lợi ích công cộng. Khi hệ thống pháp luật biết trân trọng sáng tạo và mở rộng cơ hội cho mỗi người phát huy tài năng, văn hóa không còn chỉ là lĩnh vực cần được hỗ trợ mà còn trở thành nguồn lực nội sinh cho phát triển bền vững.
Trong tuyên truyền, giáo dục pháp luật, cần chuyển mạnh từ truyền đạt một chiều sang khơi gợi nhận thức, đối thoại và thực hành. Ngày Pháp luật Việt Nam 9/11 không nên chỉ được đánh dấu bằng hội nghị, khẩu hiệu hay cuộc thi tìm hiểu; điều quan trọng hơn là có bao nhiêu người hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, bao nhiêu thủ tục được đơn giản hóa, bao nhiêu kiến nghị chính đáng được giải quyết. Truyền thông đa nền tảng với những câu chuyện pháp luật gần gũi, giáo dục về quyền và trách nhiệm công dân trong trường học và cộng đồng sẽ tạo sức lan tỏa bền vững hơn lời kêu gọi chung chung.
Khi thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trở thành nét văn hóa, khi dân chủ được thực hành mỗi ngày và công lý được bảo vệ bằng hành động cụ thể, tinh thần Hiến pháp năm 1946 sẽ tiếp tục tỏa sáng, nâng đỡ khát vọng xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Kỷ niệm 80 năm Ngày Quốc hội thông qua Hiến pháp đầu tiên, chúng ta trân trọng tri ân Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thế hệ đại biểu Quốc hội đã đặt nền móng cho nền lập hiến nước nhà. Nhưng sự tri ân có ý nghĩa nhất không chỉ là nhắc lại quá khứ, mà là làm cho những giá trị ấy sống động hôm nay: để người dân cảm nhận Hiến pháp qua những quyền, cơ hội và sự công bằng trong cuộc sống; để mỗi cán bộ hiểu rằng quyền lực là trách nhiệm phục vụ; để mỗi đạo luật thực sự là một cam kết với Nhân dân.
Khi thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trở thành nét văn hóa, khi dân chủ được thực hành mỗi ngày và công lý được bảo vệ bằng hành động cụ thể, tinh thần Hiến pháp năm 1946 sẽ tiếp tục tỏa sáng, nâng đỡ khát vọng xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.