Chính trị

Phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn xã hội trong phòng, chống ma túy, tội phạm

Minh Trang • 05/11/2026 10:18

Sáng 5/11, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2026-2035.

pctqh(1).jpg
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn chủ trì, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh điều hành phiên họp. Ảnh: Quang Khánh

Lấy người dân làm trung tâm, địa bàn cấp xã là nền tảng

Theo Tờ trình do Bộ trưởng Bộ Công an, Đại tướng Lương Tam Quang trình bày, tên chương trình là “Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy và tội phạm giai đoạn 2026 - 2035” được thực hiện trên phạm vi toàn quốc từ năm 2026 đến hết năm 2035. Trong đó, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến hết năm 2030; giai đoạn II: Từ năm 2031 đến hết năm 2035.

Chương trình được xây dựng nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn xã hội trong phòng, chống ma túy và tội phạm, lấy người dân làm trung tâm, địa bàn cấp xã là nền tảng; tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ, đầu tư trang thiết bị, thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong phòng, chống ma túy và tội phạm, lấy phòng ngừa là chính, chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa, từ cơ sở nhằm kéo giảm bền vững tội phạm, giảm cung, giảm cầu, giảm tác hại của ma túy, góp phần bảo đảm an ninh, trật tự, xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển.

Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang
Bộ trưởng Bộ Công an, Đại tướng Lương Tam Quang trình bày Tờ trình. Ảnh: Quang Khánh

Đối tượng thụ hưởng của Chương trình là người nghiện ma túy, người sử dụng trái phép chất ma túy, người cai nghiện ma túy, người tham gia điều trị nghiện ma túy, người sau cai nghiện ma túy và người vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy thuộc diện được trợ giúp pháp lý; người bị hại, nạn nhân của tội phạm, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân khác bị tội phạm tác động; người yếu thế, có nguy cơ bị tội phạm xâm hại; người bị buộc tội; người chấp hành án hình sự; người thuộc diện được trợ giúp pháp lý trong vụ án hình sự; toàn thể người dân Việt Nam, cộng đồng dân cư và các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân khác có liên quan.

Đối tượng thụ hưởng còn là các cơ quan, đơn vị, cá nhân thuộc các cơ quan: chuyên trách phòng, chống ma túy; chuyên trách phòng, chống tội phạm; hỗ trợ, tham mưu, quản lý nhà nước về phòng, chống tội phạm và ma túy; cai nghiện ma túy; điều trị nghiện ma túy và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia phòng, chống tội phạm và ma túy.

Các đại biểu tham dự phiên họpVQK_5473
Các đại biểu tham dự phiên họp. Ảnh: Quang Khánh

Tổng kinh phí thực hiện Chương trình giai đoạn 2026 - 2030 là 45.301,261 tỷ đồng (bao gồm: vốn ngân sách trung ương: 39.675,757 tỷ đồng; vốn huy động hợp pháp khác: dự kiến 128,035 tỷ đồng). Dự kiến tổng kinh phí thực hiện Chương trình trong giai đoạn 2031 - 2035 là khoảng 18.151,758 tỷ đồng.

Chương trình đề ra mục tiêu đến năm 2030 hàng năm giảm số người nghiện ma túy, người sử dụng trái phép chất ma túy; đạt ít nhất 50% số xã, phường, đặc khu trên toàn quốc không có ma túy. Phấn đấu 100% các điểm, tụ điểm phức tạp về ma túy, điểm nguy cơ, đối tượng bán lẻ về ma túy và 100% diện tích trồng trái phép cây có chứa chất ma túy được phát hiện và triệt phá; tỷ lệ thụ lý tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đạt 100%, trong đó tỷ lệ giải quyết phấn đấu đạt trên 88%; tỷ lệ điều tra, khám phá các loại tội phạm đạt trên 75%...

Đến năm 2035, phấn đấu 100% cơ quan báo chí chủ lực có chuyên trang, chuyên mục về phòng, chống tội phạm; tăng cường các biện pháp phòng ngừa để kéo giảm bền vững tội phạm, trong đó phấn đấu hằng năm giảm trên 10% số vụ phạm tội về trật tự xã hội; 100% dữ liệu về các đối tượng tội phạm được số hóa, chuẩn hóa, làm sạch và đối sánh...

Làm rõ căn cứ xác định kinh phí của từng dự án

Trình bày Báo cáo thẩm tra tóm tắt, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu nêu rõ, Ủy ban cơ bản tán thành sự cần thiết đầu tư Chương trình nhằm cụ thể hóa các chủ trương, định hướng của Đảng về tăng cường công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, đồng thời tích hợp Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030 đã được Quốc hội phê duyệt tại Nghị quyết số 163/2024/QH15.

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu trình bày tóm tắt Báo cáo thẩm tra. Ảnh: Quang Khánh

Ủy ban Pháp luật và Tư pháp nhận thấy, hệ thống mục tiêu, chỉ tiêu trong dự thảo Nghị quyết cơ bản bám sát chủ trương của Đảng, đáp ứng, giải quyết các yêu cầu cấp bách, khách quan của công tác phòng, chống ma túy và tội phạm trong tình hình mới. Phạm vi, thời gian thực hiện Chương trình từ năm 2026 đến hết năm 2035, bao gồm 2 giai đoạn: giai đoạn 1 từ năm 2026 đến hết năm 2030 và giai đoạn 2 từ năm 2031 đến hết năm 2035 là phù hợp.

Bên cạnh đó, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp đề nghị cần tiếp tục rà soát một số nội dung để bảo đảm tính thống nhất, chính xác, gắn kết giữa chỉ tiêu với nhiệm vụ, hoạt động, nguồn lực thực hiện; rà soát bảo đảm các chỉ tiêu giữa 2 giai đoạn có sự kế thừa và nâng dần yêu cầu, bao quát cả lĩnh vực phòng, chống ma túy và phòng, chống tội phạm; bổ sung chỉ tiêu để bảo đảm phù hợp nghị quyết của Đảng, các quy định của pháp luật có liên quan; việc phân nhóm các mục tiêu, chỉ tiêu cần rõ ràng, tránh giao thoa, trùng lặp.

Về các dự án, tiểu dự án thành phần, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp và một số cơ quan của Quốc hội nhận thấy, còn một số nhiệm vụ có tính chất tương đồng được bố trí ở nhiều dự án khác nhau; phương thức phân bổ vốn ở một số dự án còn bình quân, chưa thực sự gắn kết với mức độ phức tạp, quy mô nhiệm vụ và kết quả đầu ra, có số liệu về kinh phí dự toán còn chưa chính xác, cần được tiếp tục rà soát để chỉnh lý cho phù hợp, chính xác, khả thi.

Các đại biểu tham dự phiên họpVQK_5464
Các đại biểu tham dự phiên họp. Ảnh: Quang Khánh

Về kinh phí thực hiện Chương trình, nguyên tắc phân bổ vốn, Ủy ban đề nghị cần rà soát, làm rõ căn cứ xác định kinh phí của từng dự án, tiểu dự án thành phần; nguyên tắc, căn cứ quy định cho phép Chính phủ điều chỉnh cơ cấu vốn đầu tư công, kinh phí thường xuyên ngân sách trung ương và tiếp tục cân đối ngân sách trung ương hỗ trợ bổ sung cho Chương trình trong quá trình thực hiện; trách nhiệm cân đối, bố trí phần vốn ngân sách địa phương và cơ chế huy động các nguồn lực hợp pháp khác.

Đồng thời, thuyết minh, làm rõ căn cứ xác định nhu cầu và mức kinh phí dự kiến của giai đoạn 2031 - 2035 để bổ sung trong dự thảo Nghị quyết, phù hợp với thẩm quyền của Quốc hội; đề nghị quan tâm ưu tiên hỗ trợ cho địa bàn biên giới.

Minh Trang