Đẩy mạnh số hóa trong giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp tại Hải Phòng
Trong 9 tháng năm 2026, Hải Phòng có khoảng 21.390 người đăng ký hưởng bảo hiểm thất nghiệp (BHTN); 21.256 người được giải quyết hưởng chế độ, với tổng số tiền chi trả khoảng 711,94 tỷ đồng. Thành phố đẩy mạnh số hóa hồ sơ, cải tiến quy trình nhằm bảo đảm quyền lợi người lao động và nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách.
Theo số liệu của Thống kê thành phố Hải Phòng, số người đăng ký hưởng BHTN trong 9 tháng năm 2026 tăng 3,01% so với cùng kỳ năm 2025. Số người được giải quyết hưởng chế độ tăng 8,04%, trong khi tổng kinh phí chi trả đạt khoảng 711,94 tỷ đồng, tăng 19,39%. Những con số này cho thấy nhu cầu thụ hưởng chính sách vẫn ở mức cao, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực tiếp nhận, xử lý hồ sơ và tổ chức thực hiện chế độ tại địa phương.
Thông tin từ báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2026 của thành phố cho biết, riêng trong tháng 10, Hải Phòng tiếp nhận khoảng 2.350 hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp; khoảng 2.020 người có quyết định hưởng chế độ. Đây là số liệu phát sinh trong tháng, cho thấy công tác giải quyết BHTN tiếp tục được triển khai với khối lượng đáng kể trong những tháng cuối năm.
Trước yêu cầu đó, Trung tâm Dịch vụ việc làm thành phố Hải Phòng chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin trong tiếp nhận, xử lý và quản lý hồ sơ. Theo thông tin công bố về kết quả thực hiện chính sách BHTN 9 tháng đầu năm, 100% hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp được thực hiện thông qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia và Cổng Thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Nội vụ. Người lao động được hướng dẫn thực hiện thủ tục trên các nền tảng này, đồng thời sử dụng phần mềm chuyên ngành BHTN trong quá trình xử lý nghiệp vụ.
Đáng chú ý, đến năm 2026, Trung tâm đã số hóa 193.893 hồ sơ BHTN. Việc chuyển đổi hồ sơ giấy sang dữ liệu điện tử giúp thuận lợi hơn trong tra cứu, đối chiếu thông tin, phục vụ kiểm tra, thanh tra khi cần thiết; đồng thời hạn chế nguy cơ sai sót, thất lạc hồ sơ. Đây cũng là cơ sở để từng bước hình thành dữ liệu tập trung, tăng khả năng liên thông, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan.
Cùng với số hóa hồ sơ, công tác theo dõi quá trình hưởng trợ cấp được thực hiện thường xuyên. Trong 9 tháng đầu năm, Hải Phòng ghi nhận 754 trường hợp tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp và 2.323 trường hợp chấm dứt hưởng trợ cấp. Việc cập nhật kịp thời tình trạng hưởng chế độ có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm chi trả đúng đối tượng, đúng quy định, đồng thời giúp người lao động thực hiện đầy đủ trách nhiệm thông báo khi có thay đổi về tình trạng việc làm.
Chính sách BHTN không chỉ dừng ở hỗ trợ thu nhập trong thời gian người lao động mất việc mà còn hướng tới giúp họ sớm quay trở lại thị trường lao động. Trong 9 tháng năm 2026, Trung tâm Dịch vụ việc làm thành phố đã tư vấn về việc làm, học nghề và chính sách pháp luật lao động cho 156.206 lượt người; giới thiệu việc làm cho 36.237 người. Riêng nhóm người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, Trung tâm tư vấn học nghề cho 20.500 lượt người và giới thiệu 920 học viên đến các cơ sở đào tạo nghề.
Các chương trình đào tạo được tư vấn tương đối đa dạng, gồm ngoại ngữ, tin học văn phòng, kế toán doanh nghiệp, vận hành xe nâng, pha chế đồ uống, chế biến món ăn và lái xe. Qua đó, người lao động có thêm lựa chọn nâng cao kỹ năng, bổ sung năng lực nghề nghiệp hoặc chuyển đổi công việc phù hợp với nhu cầu tuyển dụng.
Trong 10 tháng năm 2026, thành phố tổ chức 110 phiên giao dịch việc làm, tăng 34,15% so với cùng kỳ năm 2025, với 1.021 lượt doanh nghiệp tham gia. Nhu cầu tuyển dụng đạt khoảng 320.646 lượt lao động. Hoạt động này góp phần bổ sung kênh kết nối cung - cầu, tạo điều kiện để người lao động đang tìm việc tiếp cận thông tin tuyển dụng.
Luật Việc làm năm 2025 và Nghị định số 374/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 tiếp tục hoàn thiện chính sách BHTN theo hướng gắn hỗ trợ thu nhập với tư vấn, giới thiệu việc làm và đào tạo nghề. Trong bối cảnh số lượng hồ sơ tại Hải Phòng còn lớn, việc duy trì tỷ lệ tiếp nhận trực tuyến, nâng chất lượng dữ liệu và hỗ trợ người lao động sử dụng dịch vụ công là những nhiệm vụ cần được chú trọng. Qua đó, không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý mà còn góp phần bảo đảm người lao động tiếp cận chính sách kịp thời, thuận lợi và minh bạch.