Xã hội

Bảo vệ biển từ đầu nguồn

Phạm Văn Sơn - Tổng Thư ký Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam • 05/11/2026 06:46

Tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội sẽ xem xét, thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường và Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi). Đây là cơ hội để tiếp tục hoàn thiện các quy định về kiểm soát ô nhiễm từ đất liền, lưu vực sông ra biển, với tinh thần xuyên suốt: biển là điểm cuối của nhiều dòng chảy, nhưng bảo vệ biển phải từ đầu nguồn.

Lợi thế lớn phải đi cùng trách nhiệm lớn

Nghị quyết số 36-NQ/TW và Quy hoạch không gian biển quốc gia đều hướng tới mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững. Hàng hải, du lịch biển, nuôi trồng và khai thác hải sản, công nghiệp ven biển, năng lượng tái tạo cùng nhiều ngành kinh tế biển mới đang mở ra không gian phát triển lớn.

Càng dựa vào biển để phát triển, yêu cầu bảo vệ biển càng cấp thiết. Biển không bắt đầu từ mép nước, và trách nhiệm bảo vệ biển cũng không thể chỉ bắt đầu khi chất ô nhiễm đã trôi tới cửa sông hay xuất hiện trên mặt biển.

Tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội sẽ xem xét, thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường và Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi). Đây là dịp quan trọng để tiếp tục hoàn thiện các quy định về bảo vệ môi trường, trong đó có việc kiểm soát ô nhiễm từ đất liền, lưu vực sông ra biển, đồng thời tăng cường sự phối hợp giữa các ngành, địa phương trong phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường.

Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) đã dành nội dung cho kiểm soát ô nhiễm từ đất liền, lưu vực sông ra biển, phân vùng rủi ro và ứng phó sự cố. Thực tiễn ứng phó sự cố đặt ra yêu cầu làm rõ hơn nguyên tắc: bảo vệ môi trường biển phải gắn với kiểm soát nguồn phát sinh, đường lan truyền và khu vực có nguy cơ chịu tác động. Tinh thần này cũng cần được nhìn nhận đồng bộ trong quá trình sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường và tổ chức thực hiện pháp luật để trách nhiệm bảo vệ môi trường được thực hiện liên tục từ nơi phát sinh chất ô nhiễm đến khu vực có nguy cơ chịu tác động.

009.jpg
Dầu thải và nước nhiễm dầu có thể phát sinh trong hoạt động thường ngày của tàu cá. Ảnh: Trung tâm SOS

Thực tiễn nhiều năm trực tiếp tham gia ứng phó sự cố môi trường cho thấy, chất ô nhiễm không đi theo ranh giới quản lý. Một công trình lưu giữ chất thải quặng đuôi có thể nằm ở vùng núi, cách biển hàng trăm kilomet. Ngay trong quá trình vận hành bình thường, nước mưa chảy tràn, nước thấm và các dòng nước tiếp xúc với quặng đuôi đều phải được thu gom, kiểm soát và xử lý phù hợp; nếu không, chất ô nhiễm có thể theo khe, suối và sông lan xuống hạ lưu. Khi xảy ra tràn hoặc vỡ đập, một lượng lớn bùn quặng đuôi có thể theo khe, suối, nhập vào sông và tiếp tục lan truyền theo lưu vực ra cửa sông, vùng biển ven bờ.

Một vụ cháy kho hóa chất trong đất liền cũng có thể tạo ra lượng lớn nước chữa cháy nhiễm hóa chất; nếu không được cô lập tại nguồn, dòng ô nhiễm có thể theo hệ thống thoát nước đi xa. Ngay trên sông và vùng nước ven biển, dầu rò rỉ, nước la canh (nước đáy tàu) nhiễm dầu, dầu cặn và chất thải từ phương tiện thủy cũng có thể gây ô nhiễm tích lũy.

Có thể phân định thẩm quyền quản lý, nhưng không thể phân chia đường lan truyền của ô nhiễm. Một dòng sông vẫn chảy liên tục qua nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực quản lý trước khi ra biển. Vì vậy, trách nhiệm của các cơ quan, địa phương phải được nối với nhau theo chính đường đi của chất ô nhiễm.

Chặn ô nhiễm ngay từ nguồn phát sinh

Trong ứng phó sự cố, chất ô nhiễm càng lan xa thì khả năng kiểm soát càng giảm nhanh, trong khi chi phí xử lý tăng lên rất lớn. Khi dầu hoặc hóa chất còn nằm trong bể chứa, nhà xưởng, tuyến cống hay một đoạn mương hẹp, chúng ta vẫn còn cơ hội cô lập, bơm hút và thu gom. Nhưng khi đã đi vào sông lớn hoặc ra biển, bài toán thay đổi hoàn toàn.

Với các chất hòa tan, khi đã bị pha loãng và phát tán trong một khối nước lớn thì gần như không còn khả năng quây lại để thu gom như tại nguồn. Với dầu, việc thu hồi cũng nhanh chóng khó hơn khi dầu bị dòng chảy, sóng và gió làm phân tán. Dầu nhẹ như DO có thể bay hơi, hòa tan một phần và phân tán thành các giọt nhỏ trong cột nước; một phần có thể gắn với vật chất lơ lửng và trầm tích. Dầu nặng như FO dễ nhận biết hơn, nhưng khi đã phát tán trên diện rộng thì việc thu gom cũng rất khó.

Không còn nhìn thấy vệt dầu hoặc màu ô nhiễm trên mặt nước không có nghĩa chất ô nhiễm đã biến mất; nhiều khi chúng chỉ chuyển từ trạng thái dễ nhìn thấy sang trạng thái khó nhận biết hơn.

Bảo vệ biển từ sớm, từ xa, vì thế, phải được cụ thể hóa thành những việc rất thực tế: nhận diện nguồn nguy cơ; xác định chất gì có thể phát tán và đi theo đường nào; nhận diện khu vực nhạy cảm ở hạ lưu; chuẩn bị trước điểm chặn, phương tiện, trang thiết bị, vật tư và lực lượng có thể huy động trong những giờ đầu. Một bản đồ nguy cơ chỉ có giá trị khi giúp trả lời được những câu hỏi ấy; một kế hoạch ứng phó chỉ thực chất khi nguồn lực ghi trong kế hoạch có thể huy động, tiếp cận hiện trường và sử dụng được khi sự cố xảy ra.

Việc hoàn thiện dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường và dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) tại Kỳ họp thứ Hai phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó. Pháp luật phân công trách nhiệm, nhưng đồng thời phải làm cho các trách nhiệm gặp được nhau trên cùng một dòng chảy. Tinh thần bảo vệ biển từ nguồn, từ sớm và từ xa cần được thể hiện rõ hơn trong hai dự thảo Luật và cách tổ chức thực hiện, chú trọng phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm từ nguồn, thay vì chỉ xử lý khi ô nhiễm đã lan ra biển.

“

Muốn phát triển mạnh kinh tế biển, trước hết phải gìn giữ nền tảng sinh thái của biển. Điểm cần hành động đầu tiên nhiều khi không nằm ở bờ biển, mà ở mỗi nhà máy, khu công nghiệp, bãi chứa chất thải, con suối hay dòng sông rất xa biển. Biển là điểm cuối của nhiều dòng chảy, nhưng bảo vệ biển phải bắt đầu từ đầu nguồn!

Phạm Văn Sơn - Tổng Thư ký Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam