Làm rõ căn cứ xác định hành vi, tránh xử phạt trùng hoặc bỏ sót vi phạm
Góp ý dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) tại phiên thảo luận hội trường chiều 4/11, ĐBQH Lý Anh Thư (An Giang) đề nghị làm rõ căn cứ phân định từng hành vi, tránh xử phạt trùng hoặc bỏ sót vi phạm; thống nhất cách xác định thời hiệu xử phạt đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường biển.
Xác định đúng hành vi, áp dụng thống nhất thời hiệu
Cơ bản thống nhất với sự cần thiết sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính, đại biểu Lý Anh Thư ghi nhận cơ quan soạn thảo đã tiếp thu, chỉnh lý nhiều nội dung sau thảo luận tại tổ. Đại biểu nhấn mạnh, đây là đạo luật tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp nên các quy định cần rõ ràng, khả thi, bảo đảm tính nghiêm minh và áp dụng thống nhất.

Về phân định hành vi vi phạm tại điểm d khoản 1 Điều 3, đại biểu thống nhất với nguyên tắc một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần; một người thực hiện nhiều hành vi thì bị xử phạt về từng hành vi. Tuy nhiên, vấn đề cần làm rõ khi tổ chức thực hiện là căn cứ phân biệt nhiều hành vi vi phạm độc lập với một hành vi làm phát sinh nhiều hậu quả hoặc liên quan đến nhiều lĩnh vực quản lý.
Đơn cử, một cơ sở sử dụng đất sai mục đích, đồng thời phát sinh ô nhiễm môi trường. Muốn xử phạt về cả hai hành vi, cơ quan có thẩm quyền phải chứng minh được từng hành vi và căn cứ pháp lý tương ứng; không thể chỉ từ hậu quả ô nhiễm mà mặc nhiên xác định thêm một hành vi vi phạm.
Từ đó, đại biểu đề nghị, khi hoàn thiện quy định chi tiết theo Điều 4, Chính phủ cần rà soát các hành vi có dấu hiệu giao thoa giữa các lĩnh vực; làm rõ căn cứ phân định, trách nhiệm phối hợp và trao đổi thông tin giữa các cơ quan xử lý. Hồ sơ phải thể hiện rõ căn cứ xác định từng hành vi, tránh xử phạt trùng hoặc bỏ sót vi phạm. Đây là yêu cầu thiết thực để nguyên tắc một hành vi chỉ bị xử phạt một lần được thực hiện thống nhất.

Về thời hiệu xử phạt trong lĩnh vực bảo vệ môi trường biển và hải đảo tại khoản 1 Điều 6, đại biểu cho biết, điểm a quy định thời hiệu hai năm đối với lĩnh vực quản lý tổng hợp tài nguyên, không gian biển, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; trong khi điểm b quy định thời hiệu ba năm đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Đồng tình với nội dung tiếp thu, giải trình về việc phải xác định hành vi cụ thể theo từng lĩnh vực, song đại biểu cho rằng cách liệt kê hiện nay vẫn cần làm rõ ranh giới giữa bảo vệ môi trường biển, hải đảo với bảo vệ môi trường nói chung.
Với hành vi xả chất thải gây ô nhiễm môi trường biển, cần xác định rõ căn cứ áp dụng thời hiệu hai năm hay ba năm. Sự khác biệt này ảnh hưởng trực tiếp đến việc còn hay hết thời hiệu xử phạt, nên phải được quy định minh bạch.
Từ thực tiễn địa phương có biển, đảo như An Giang, đại biểu đề nghị rà soát đồng bộ hai quy định trên. Nếu giữ thời hiệu khác nhau, cần làm rõ phạm vi, hành vi của từng nhóm và cơ sở của việc phân biệt; đồng thời hướng dẫn thống nhất cách tính thời hiệu khi quy định chi tiết. Không nên để cùng một hành vi được xác định thời hiệu khác nhau chỉ do cách phân loại lĩnh vực của cơ quan thực thi.
Bảo đảm người ký biên bản hiểu đúng nội dung được ghi nhận
Quan tâm đến việc bảo đảm ngôn ngữ khi lập biên bản tại Điều 46, đại biểu nêu rõ, điểm d khoản 3 quy định ghi lời khai của người vi phạm và những người có liên quan, nhưng chưa thể hiện rõ nguyên tắc bảo đảm họ hiểu nội dung được ghi nhận khi không sử dụng được tiếng Việt.

Theo đại biểu, đối với địa phương có hoạt động du lịch, giao thương và giao lưu quốc tế, đây là tình huống có thể phát sinh trong thực tiễn. Người ký biên bản cần hiểu đúng lời khai và nội dung liên quan đến mình; chữ ký phải gắn với việc được giải thích, kiểm tra và xác nhận.
Đại biểu đề nghị bổ sung tại Điều 46 nguyên tắc người không sử dụng được tiếng Việt được bảo đảm phiên dịch khi ghi lời khai và xác nhận nội dung biên bản liên quan đến mình.
Trên cơ sở khoản 10 Điều 46 đã giao Chính phủ quy định chi tiết, cần làm rõ trách nhiệm bố trí phiên dịch; yêu cầu khách quan, chính xác; việc đọc hoặc dịch lại để người khai kiểm tra, xác nhận; trách nhiệm ký và lưu tài liệu trong hồ sơ.
Đồng thời, cần quy định cách xử lý khi chưa bố trí được phiên dịch hoặc có tranh chấp về nội dung dịch, bảo đảm đúng thời hạn, trình tự và quyền giải trình.
Đại biểu mong muốn dự thảo tiếp tục được hoàn thiện theo hướng xác định đúng hành vi, áp dụng đúng thời hiệu, bảo đảm thủ tục minh bạch; qua đó vừa giữ nghiêm kỷ cương, vừa bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp.