Tháo nút thắt, khơi thông dòng vốn vào ngành điện
Để các mục tiêu phát triển năng lượng thực sự đi vào cuộc sống, Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam Nguyễn Thị Thanh Bình - ĐBQH tỉnh Hưng Yên nhấn mạnh cần cơ chế giám sát tiến độ xuyên suốt các dự án điện, bảo đảm đồng bộ giữa nguồn và lưới điện; đồng thời xây dựng khung giá phát điện sát thực tế, hoàn thiện hợp đồng mua bán điện để nâng cao hiệu quả đầu tư, thu hút nguồn lực phát triển năng lượng.
Giám sát tiến độ toàn bộ quá trình thực hiện dự án
Phóng viên: Bà đánh giá như thế nào về tiến độ triển khai các dự án điện hiện nay nhất là trong bối cảnh nhu cầu năng lượng ngày càng tăng cao?
Bà Nguyễn Thị Thanh Bình: Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, dữ liệu và chuyển đổi xanh, nguồn điện ổn định, đầy đủ và có tính cạnh tranh là nền tảng quan trọng để thu hút đầu tư, phát triển các ngành kinh tế mới và thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao. Đối với mỗi địa phương, các dự án năng lượng không chỉ bảo đảm nguồn cung điện mà còn tạo việc làm, tăng nguồn thu và mở ra động lực phát triển kinh tế.

Thời gian qua, Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ đã quan tâm, ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển năng lượng, đặc biệt là năng lượng tái tạo, năng lượng xanh. Tuy nhiên, khoảng cách giữa chủ trương, chính sách và kết quả triển khai trên thực tế vẫn còn khá lớn.
Quy hoạch điện VIII được phê duyệt năm 2023, điều chỉnh năm 2025, nhưng tiến độ triển khai còn chậm. Nhiều địa phương mới bắt đầu thực hiện lựa chọn nhà đầu tư. Như vậy, đã có khoảng thời gian 2 - 3 năm trôi qua nhưng nhiều dự án bổ sung vẫn chưa thể đi vào vận hành. Điều này cho thấy những vướng mắc không chỉ nằm ở khâu lựa chọn nhà đầu tư mà còn xuất hiện trong toàn bộ quá trình triển khai dự án. Nếu không có cơ chế kiểm soát tiến độ đồng bộ, chúng ta có thể tiếp tục mất nhiều thời gian ngay từ những bước khởi đầu.
Phóng viên: Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực đã được trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ Hai. Theo bà, dự thảo cần có những giải pháp gì để khắc phục tình trạng chậm tiến độ này?
Bà Nguyễn Thị Thanh Bình: Theo tôi, trước hết cần ràng buộc trách nhiệm và tăng cường giám sát tiến độ xuyên suốt toàn bộ quá trình thực hiện dự án điện. Quy định nhà đầu tư phải bảo đảm tiến độ là cần thiết, nhưng lựa chọn được nhà đầu tư không đồng nghĩa với việc dự án có thể triển khai ngay. Sau đó còn hàng loạt công việc như ký kết hợp đồng mua bán điện, thu xếp vốn, xây dựng công trình lưới điện giải tỏa công suất, nghiệm thu và vận hành thương mại. Chỉ cần mỗi khâu chậm vài tháng cũng có thể khiến toàn bộ dự án chậm hàng năm.

Do đó, tôi đề nghị bổ sung tại Điều 12 và Điều 13 cơ chế giám sát tiến độ liên thông, có đầu mối tại UBND cấp tỉnh, phối hợp với Bộ Công Thương, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và các đơn vị liên quan.
Mỗi dự án cần có một kế hoạch tiến độ chung, xác định cụ thể trách nhiệm và thời hạn của từng khâu, từ thẩm định, phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi, thỏa thuận đấu nối, đàm phán hợp đồng mua bán điện (PPA) đến nghiệm thu, vận hành thương mại. Đồng thời, cần quy định rõ thời hạn xử lý hồ sơ, các mốc đàm phán, trách nhiệm giải trình và cơ chế xử lý khi quá hạn; qua đó phân định cụ thể nguyên nhân chậm tiến độ thuộc về bên nào.
Bên cạnh đó, phải gắn quy hoạch nguồn điện với quy hoạch và tiến độ đầu tư lưới điện. Tại khoản 5a Điều 10, tôi đề nghị danh mục nguồn điện phải đi kèm các công trình lưới điện cần thiết để giải tỏa công suất, xác định rõ chủ đầu tư lưới điện, trách nhiệm của EVN và các đơn vị liên quan, cũng như thời hạn hoàn thành trước hoặc đồng thời với nguồn điện. Có như vậy mới tránh được tình trạng nhà máy xây dựng xong nhưng không thể phát điện do thiếu hạ tầng truyền tải.
Khung giá phát điện phải phản ánh đúng chi phí đầu tư thực tế
Phóng viên: Một vấn đề khác được nhiều nhà đầu tư quan tâm là cơ chế giá phát điện. Bà có kiến nghị gì để khung giá phát điện vừa phản ánh đúng chi phí đầu tư, vừa tạo sức hấp dẫn đối với các dự án năng lượng?
Bà Nguyễn Thị Thanh Bình: Khung giá phát điện cần được xây dựng kịp thời, khách quan, phản ánh đầy đủ các chi phí hợp lý, hợp lệ và đủ sức thu hút đầu tư.
Thực tế, khi xây dựng phương án khung giá năm 2026, EVN sử dụng thông số của dự án mẫu có báo cáo nghiên cứu khả thi được phê duyệt từ năm 2023, tức là trước thời điểm Luật Đất đai mới được ban hành. Trong khi đó, các chính sách mới về bồi thường, hỗ trợ đã làm tăng đáng kể chi phí giải phóng mặt bằng, chi phí hỗ trợ hạn chế sử dụng đất trong hành lang cánh tua-bin gió và tổng mức đầu tư dự án. Nếu tiếp tục sử dụng dữ liệu cũ, khung giá phát điện sẽ không phản ánh đúng điều kiện đầu tư hiện nay, ảnh hưởng đến tính khả thi và khả năng thu hút nhà đầu tư.
Vì vậy, tôi đề nghị bổ sung tại khoản 3 Điều 51 nguyên tắc cập nhật dữ liệu theo năm áp dụng, công nghệ và địa bàn; bảo đảm tính đầy đủ các chi phí hợp lý, hợp lệ, đặc biệt là các nghĩa vụ liên quan đến đất đai. Chính phủ cần quy định cụ thể phương pháp cập nhật, cách xử lý biến động chi phí do thay đổi chính sách và cơ chế kiểm soát việc tính trùng.

Bên cạnh đó, phương án khung giá cần được xây dựng bởi đơn vị có năng lực, độc lập với lợi ích thương mại của bên mua điện. EVN có trách nhiệm cung cấp dữ liệu, Bộ Công Thương tổ chức thẩm định, phê duyệt. Đặc biệt, khung giá phát điện hằng năm cần được công bố chậm nhất trong quý I, đồng thời có cơ chế chuyển tiếp trong trường hợp khung giá mới chưa được ban hành.
Hoàn thiện hợp đồng mua bán điện, tạo niềm tin cho nhà đầu tư
Phóng viên: Trong bối cảnh nhu cầu vốn đầu tư cho ngành điện rất lớn, việc hoàn thiện hợp đồng mua bán điện (PPA) có ý nghĩa như thế nào đối với khả năng huy động vốn quốc tế, thưa bà?
Bà Nguyễn Thị Thanh Bình: Đây là một trong những vấn đề then chốt cần được quan tâm trong lần sửa đổi Luật Điện lực này. Theo mục tiêu quy hoạch, công suất nguồn điện năm 2030 dự kiến đạt khoảng 183.000 - 236.000 MW; riêng nhu cầu vốn đầu tư cho nguồn điện giai đoạn 2026 - 2035 cần trên 100 tỷ USD. Quy mô đầu tư rất lớn này đòi hỏi phải huy động đa dạng nguồn lực, đặc biệt là thu hút các nhà đầu tư quốc tế có tiềm lực tài chính, công nghệ và kinh nghiệm quản trị.
Tuy nhiên, theo báo cáo của Bộ Công Thương tại cuộc họp ngày 1/10/2026, trong 18 dự án LNG thuộc danh mục theo dõi, chỉ có một dự án được đánh giá có khả năng đáp ứng tiến độ. Một trong những nút thắt quan trọng là hợp đồng mua bán điện chưa đáp ứng được yêu cầu thu xếp vốn quốc tế. Các dự án điện gió ngoài khơi sau khi lựa chọn nhà đầu tư cũng có thể gặp những vướng mắc tương tự.

Tôi cho rằng cần tập trung hoàn thiện hai cơ chế cơ bản. Thứ nhất, cần quy định nguyên tắc phân bổ hợp lý rủi ro tỷ giá tại Điều 51. Đối với các dự án điện, doanh thu chủ yếu bằng đồng Việt Nam trong khi nghĩa vụ trả nợ lại bằng ngoại tệ, tạo ra rủi ro lớn cho nhà đầu tư và tổ chức tín dụng. Vì vậy, cần cho phép thành phần giá tương ứng với nghĩa vụ ngoại tệ hợp lý được điều chỉnh theo tỷ giá tham chiếu và thanh toán bằng đồng Việt Nam; đồng thời giao Chính phủ quy định cụ thể, bảo đảm đồng bộ với pháp luật về ngoại hối.
Thứ hai, cần hoàn thiện cơ chế cam kết mua điện dài hạn đối với các nguồn điện quy mô lớn, phù hợp với đặc điểm của từng loại nguồn điện và nhu cầu của hệ thống. Đối với điện LNG, cần làm rõ sản lượng hợp đồng tối thiểu, thời gian áp dụng; cho phép thanh toán công suất gắn với khả năng sẵn sàng phát điện để bù đắp các chi phí cố định hợp lý.
Đối với các nguồn điện quy mô lớn khác, cần làm rõ cam kết mua sản lượng điện đủ điều kiện giao nhận và cơ chế phân bổ rủi ro trong trường hợp phải cắt giảm công suất không xuất phát từ lỗi của nhà đầu tư. Chính phủ cần quy định cụ thể trách nhiệm của bên mua điện, điều kiện, giới hạn và phương pháp thanh toán, đồng thời tránh tình trạng tính trùng giữa các cơ chế.

Phóng viên: Từ những kiến nghị trên, bà kỳ vọng điều gì đối với lần sửa đổi Luật Điện lực này?
Bà Nguyễn Thị Thanh Bình: Theo tôi, thước đo quan trọng nhất của lần sửa đổi luật này không chỉ là hoàn thiện thêm các quy định trên văn bản mà phải là khả năng đưa các dự án nguồn điện thực sự đi vào hệ thống.
Muốn vậy, pháp luật cần giải quyết đồng bộ ba vấn đề: trách nhiệm và tiến độ triển khai dự án phải rõ ràng; cơ chế giá phát điện phải kịp thời, phản ánh đúng chi phí thực tế; và các quy định về hợp đồng mua bán điện phải đủ khả thi để huy động nguồn vốn trong nước và quốc tế.
Khi những điểm nghẽn này được tháo gỡ, các mục tiêu quy hoạch điện mới có thể chuyển hóa thành những dự án cụ thể, tạo thêm năng lực cung ứng điện, bảo đảm an ninh năng lượng và trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới.