Làm rõ thẩm quyền, tránh chồng chéo trong quản lý an ninh dữ liệu
Phát biểu tại Hội trường về dự án Luật An ninh dữ liệu sáng 4/11, ĐBQH Ngô Nam Cường (Nghệ An) đề nghị rà soát các quy định về thẩm quyền thẩm định, trách nhiệm quản lý nhà nước và việc mở rộng sử dụng mật mã an ninh, bảo đảm quản lý thống nhất, phát huy năng lực chuyên ngành, tránh chồng chéo và không để phát sinh khoảng trống trách nhiệm.
Một nội dung chỉ thẩm định, kiểm tra một lần
Cơ bản thống nhất với dự thảo Luật An ninh dữ liệu, đại biểu Ngô Nam Cường ghi nhận cơ quan chủ trì soạn thảo đã tiếp thu, chỉnh lý nhiều ý kiến tại phiên thảo luận Tổ, nhất là về phân định thẩm quyền thẩm định, trách nhiệm quản lý nhà nước và nguyên tắc không kiểm tra, thẩm định trùng lặp. Những điều chỉnh này góp phần làm rõ trách nhiệm của các cơ quan, tạo thuận lợi cho việc tổ chức thực hiện.

Góp ý Điều 12 và Điều 26, đại biểu chỉ rõ, điểm c khoản 2 Điều 12 xác định thẩm quyền thẩm định đối với hệ thống thông tin quân sự và dữ liệu do Bộ Quốc phòng quản lý. Trong khi đó, khoản 6 Điều 26, khi quy định trách nhiệm quản lý nhà nước, lại sử dụng cụm từ “dữ liệu, hệ thống thông tin quân sự”. Hai cách diễn đạt này cần được rà soát để bảo đảm phạm vi trách nhiệm quản lý và thẩm quyền thẩm định không bị hiểu khác nhau.
Theo đại biểu, quản lý quốc phòng không chỉ giới hạn ở những hệ thống trực tiếp phục vụ hoạt động quân sự mà còn bao gồm dữ liệu phục vụ động viên quốc phòng, quản lý nguồn lực, bảo đảm hậu cần, kỹ thuật và các hoạt động kết hợp kinh tế với quốc phòng theo quy định pháp luật. Không phải tất cả dữ liệu này đều là bí mật nhà nước, nhưng trách nhiệm bảo vệ phải được xác định phù hợp với tính chất dữ liệu và nhiệm vụ được giao.
Từ đó, đại biểu đề nghị rà soát khoản 6 Điều 26, bảo đảm thống nhất với điểm c khoản 2 Điều 12; xác định trách nhiệm quản lý đối với dữ liệu, hệ thống thông tin quân sự, quốc phòng theo đúng phạm vi quản lý và thẩm quyền chuyên ngành do pháp luật quy định.
Liên quan đến hệ thống lưỡng dụng, đại biểu đánh giá việc khoản 10 Điều 26 tiếp thu nguyên tắc một nội dung không phải thẩm định, kiểm tra hai lần là hợp lý. Tuy nhiên, dự thảo đồng thời xác định Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng nên cần làm rõ mối quan hệ giữa quy định này với thẩm quyền thẩm định tại Điều 12.

Dẫn chứng hạ tầng giao thông, viễn thông và năng lượng có thể đồng thời phục vụ hoạt động dân sự và nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đại biểu phân tích, cơ quan quản lý hạ tầng chưa chắc có thẩm quyền đối với mọi dữ liệu được xử lý trên đó. Nếu chỉ căn cứ vào tên hệ thống hoặc cơ quan quản lý hạ tầng để phân công, có thể chưa phản ánh đúng trách nhiệm chuyên ngành. Ngược lại, nếu mỗi cơ quan đều thực hiện một quy trình riêng, mục tiêu giảm thủ tục sẽ khó đạt được.
Theo đại biểu, việc xác định cơ quan chủ trì phải căn cứ vào tính chất dữ liệu, mục đích sử dụng và thẩm quyền chuyên ngành, đồng thời bảo đảm sự tương xứng giữa nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm... Đây cũng là điều kiện để phối hợp hiệu quả khi một hệ thống phục vụ nhiều ngành, nhiều mục tiêu.
Cần làm rõ tại khoản 10 Điều 26 nguyên tắc xác định cơ quan chủ trì theo tính chất dữ liệu, mục đích sử dụng và thẩm quyền tại Điều 12; đồng thời bảo đảm một nội dung chỉ thẩm định, kiểm tra một lần, kết quả được kế thừa, sử dụng chung trong phạm vi pháp luật cho phép.
Cách tiếp cận này không nhằm phân chia lại quyền quản lý giữa các cơ quan, mà nhằm bảo đảm ai được giao nhiệm vụ thì có thẩm quyền tương ứng, ai có thẩm quyền thì chịu trách nhiệm đến cùng.ĐBQH NGÔ NAM CƯỜNG (Nghệ An)
Bảo đảm thống nhất pháp luật khi mở rộng sử dụng mật mã an ninh
Góp ý Điều 16, đại biểu Ngô Nam Cường tán thành chủ trương nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ mật mã an ninh, nhấn mạnh sự cần thiết phải chủ động về công nghệ bảo vệ dữ liệu. Tuy nhiên, đại biểu lưu ý cần phân biệt giữa phát triển giải pháp kỹ thuật mới với việc mở rộng phạm vi sử dụng giải pháp đó trong những lĩnh vực đã có chế độ pháp lý riêng.

Theo đại biểu, khoản 1 Điều 22 Luật Dữ liệu năm 2024 quy định dữ liệu thuộc danh mục bí mật nhà nước phải được mã hóa bằng mật mã của cơ yếu khi lưu trữ, truyền, nhận và chia sẻ trên mạng máy tính. Luật Cơ yếu cũng quy định chế độ quản lý, cung cấp và sử dụng sản phẩm mật mã cơ yếu để bảo vệ thông tin bí mật nhà nước.
Trong khi đó, điểm b khoản 4 Điều 16 dự thảo Luật An ninh dữ liệu đặt ra cơ chế xem xét mở rộng sử dụng mật mã an ninh để bảo vệ bí mật nhà nước. Đại biểu ghi nhận cơ quan soạn thảo đã bổ sung yêu cầu đánh giá hiệu quả, tính an toàn và khả năng tương thích trước khi xem xét mở rộng. Tuy nhiên, từ góc độ kỹ thuật lập pháp, cần tiếp tục làm rõ giới hạn của cơ chế này trong mối quan hệ với các luật đang có hiệu lực.
Đại biểu nhấn mạnh, vấn đề cần quan tâm không phải công nghệ do cơ quan nào phát triển, mà là khi đưa vào sử dụng, công nghệ đó tuân theo chế độ bảo vệ nào; ai có thẩm quyền kiểm định, quyết định sử dụng và chịu trách nhiệm nếu xảy ra sự cố. Nếu chưa xác định rõ, cơ quan thực hiện có thể gặp khó khăn trong lựa chọn quy trình, thậm chí phát sinh cách hiểu khác nhau về thẩm quyền.
Từ đó, đại biểu đề nghị rà soát điểm b khoản 4 Điều 16, làm rõ phạm vi, điều kiện và giới hạn của việc mở rộng sử dụng mật mã an ninh, bảo đảm phù hợp với pháp luật về cơ yếu và bảo vệ bí mật nhà nước. Trường hợp việc mở rộng đặt ra yêu cầu điều chỉnh chế độ quản lý hoặc thẩm quyền đã được luật quy định, cần nghiên cứu xử lý đồng bộ trong các luật liên quan, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, thống nhất khi triển khai.
Theo đại biểu, việc hoàn thiện quy định theo hướng này vừa tạo điều kiện phát triển, ứng dụng công nghệ mới, vừa giữ được sự nhất quán trong bảo vệ bí mật nhà nước, tránh những quy trình quản lý chồng lấn không cần thiết.
Nhấn mạnh an ninh dữ liệu là vấn đề liên ngành, đòi hỏi quản lý thống nhất nhưng không thể tách rời trách nhiệm chuyên môn của từng lĩnh vực, đại biểu Ngô Nam Cường đề nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định để thẩm quyền rõ hơn, trách nhiệm liền mạch hơn và cơ chế phối hợp khả thi hơn. Mục tiêu là xây dựng cơ chế quản trị an ninh dữ liệu quốc gia thống nhất, hiệu quả, phát huy đúng năng lực của từng ngành và bảo vệ tốt lợi ích chung của đất nước.