Ưu đãi đầu tư nông nghiệp không nên chỉ dựa vào quy mô vốn
Góp ý dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, ĐBQH Lê Đào An Xuân (Đắk Lắk) cho rằng ngưỡng vốn để hưởng ưu đãi đầu tư đặc biệt hiện quá cao, chưa phù hợp với đặc thù nông nghiệp. Đại biểu đề nghị xây dựng tiêu chí riêng, chú trọng khả năng liên kết với nông dân, hợp tác xã và giá trị gia tăng mà dự án tạo ra.
Theo đại biểu Lê Đào An Xuân, dù nông nghiệp được xác định là lợi thế quốc gia, trụ đỡ của nền kinh tế, việc thu hút đầu tư vào lĩnh vực này vẫn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt ở các khâu bảo quản sau thu hoạch, chế biến sâu và logistics.
Đại biểu dẫn số liệu cho thấy, chi phí logistics chiếm khoảng 18-22%, có mặt hàng lên tới 30% giá thành. Chỉ khoảng 6% nông sản được bảo quản lạnh ngay sau thu hoạch, trong khi 83% phải bán ngay tại ruộng cho thương lái.
Đáng chú ý, chỉ khoảng 5% hợp tác xã có khả năng đầu tư kho lạnh riêng. Việc thiếu hệ thống bảo quản đạt chuẩn khiến tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch lên tới 20-25%.
Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp nông nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, khó đáp ứng các điều kiện để được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt.

Lấy ví dụ tại Đắk Lắk, đại biểu cho biết địa phương có vùng nguyên liệu lớn về cà phê, sầu riêng, thủy sản, cùng tiềm năng phát triển các chuỗi liên kết từ rừng đến biển. Nhu cầu đầu tư vào chế biến sâu, kho lạnh và logistics rất lớn, nhưng khả năng thu hút các dự án quy mô lớn còn hạn chế.
Theo đại biểu, nếu thiếu cơ chế ưu đãi phù hợp, những địa phương còn khó khăn như Đắk Lắk sẽ khó thu hút các dự án có khả năng hình thành chuỗi giá trị, nâng cao giá trị nông sản và tạo động lực phát triển kinh tế.
Ngưỡng vốn 30.000 tỷ đồng quá cao với dự án nông nghiệp
Phân tích Điều 17 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, đại biểu Lê Đào An Xuân cho rằng điều kiện hưởng ưu đãi đầu tư đặc biệt chưa phù hợp với đặc thù ngành nông nghiệp.
Theo Nghị định 96/2026/NĐ-CP được đại biểu viện dẫn, dự án thuộc nhóm ngành, nghề đặc biệt ưu đãi phải có vốn đầu tư từ 30.000 tỷ đồng, trong đó giải ngân 10.000 tỷ đồng trong ba năm.
Đại biểu nhận định đây là ngưỡng quá cao đối với phần lớn dự án nông nghiệp, khiến chính sách ưu đãi đặc biệt khó đi vào thực tiễn.
Một bất cập khác là chính sách chưa bao quát toàn bộ chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp. Dự thảo hiện chú trọng các dự án logistics quốc tế, kho dự trữ khu vực và quốc tế, trong khi kho lạnh, logistics nông sản cấp vùng và hạ tầng phục vụ vùng nguyên liệu chưa được ưu đãi tương xứng.
Đại biểu chỉ ra nghịch lý: Nhà máy chế biến có thể được hưởng ưu đãi đầu tư đặc biệt, nhưng vùng nguyên liệu, hệ thống bảo quản và logistics phục vụ chính nhà máy đó lại không được hưởng chính sách tương ứng.
Điều này đặt ra yêu cầu thiết kế chính sách đầu tư theo toàn bộ chuỗi sản xuất, từ vùng nguyên liệu, bảo quản, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm, thay vì chỉ tập trung vào một số khâu có quy mô vốn lớn.
Để khắc phục, đại biểu Lê Đào An Xuân đề nghị bổ sung vào diện ưu đãi đặc biệt các dự án bảo quản sau thu hoạch, kho lạnh, chế biến sâu nông, lâm, thủy sản; trung tâm logistics nông sản gắn với vùng nguyên liệu tập trung và dự án sản xuất giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản.
Đặc biệt, đại biểu kiến nghị Chính phủ quy định quy mô vốn và thời hạn giải ngân phù hợp với đặc thù từng ngành. Đối với một số dự án nông nghiệp, có thể áp dụng tiêu chí quy mô liên kết vùng nguyên liệu thay thế tiêu chí quy mô vốn đầu tư.
Đại biểu cũng đề nghị bổ sung mục tiêu bảo đảm an ninh lương thực vào chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt; đồng thời mở rộng phạm vi ưu đãi đối với hệ thống logistics, kho dự trữ lương thực.
Ưu đãi đầu tư phải gắn với lợi ích của nông dân
Bên cạnh điều kiện về vốn, đại biểu Lê Đào An Xuân cho rằng cơ chế hỗ trợ đầu tư cần chú trọng hơn đến mối liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân và hợp tác xã.
Theo đại biểu, dự thảo chưa đặt ra yêu cầu về cam kết liên kết sản xuất, bao tiêu sản phẩm với nông dân, hợp tác xã và phát triển vùng nguyên liệu đối với các dự án được hưởng ưu đãi đặc biệt.
Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung những nội dung này vào Điều 17, nhằm gắn chính sách ưu đãi với việc tổ chức sản xuất và tiêu thụ nông sản.
Đồng thời, các khoản hỗ trợ cần bao quát chi phí đầu tư hạ tầng vùng nguyên liệu, kho lạnh, bảo quản sau thu hoạch, chứng nhận chất lượng, truy xuất nguồn gốc và mã số vùng trồng.
Đại biểu cũng kiến nghị mở rộng đối tượng được hỗ trợ đến hợp tác xã, tổ hợp tác trong nước, thay vì chỉ tập trung vào doanh nghiệp; bổ sung quy mô liên kết vùng nguyên liệu vào tiêu chí xác định mức hỗ trợ đầu tư.
Ngoài Điều 17, đại biểu đề nghị bổ sung khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao vào Điều 28; quy định vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung là địa bàn ưu tiên thu hút các dự án chế biến sâu, logistics lạnh, sản xuất giống và dịch vụ nông nghiệp công nghệ cao tại Điều 49a.
Đối với văn bản hướng dẫn, đại biểu kiến nghị Chính phủ sửa đổi Nghị định 96/2026/NĐ-CP theo hướng đặt ngưỡng vốn riêng cho nhóm dự án nông nghiệp, đồng thời đưa vùng nguyên liệu, liên kết chuỗi, kho lạnh và logistics nông sản vào danh mục đặc biệt ưu đãi đầu tư.
Nhấn mạnh yêu cầu đổi mới cách xác định đối tượng hưởng ưu đãi, đại biểu Lê Đào An Xuân cho rằng chính sách cần được thiết kế dựa trên hiệu quả thực tế của dự án và mức độ đóng góp cho nền kinh tế.
“Không chỉ dựa vào dự án đầu tư bao nhiêu tiền, mà còn là dự án tạo ra bao nhiêu giá trị gia tăng, liên kết được bao nhiêu nông dân, hợp tác xã và đóng góp như thế nào cho phát triển kinh tế”, đại biểu nhấn mạnh.
Theo đại biểu, có như vậy, chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt mới thực sự phát huy hiệu quả, góp phần thu hút nguồn lực, nâng cao giá trị nông sản và phát triển nông nghiệp bền vững.