Thu hút đầu tư gắn với phòng, chống lợi dụng đầu tư xâm phạm an ninh, trật tự
Sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư không chỉ nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn về thủ tục hành chính, mở rộng không gian phát triển cho doanh nghiệp, mà còn phải đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng.

Lấy phát triển bền vững và an ninh quốc gia làm nền tảng
Trong nền kinh tế có mức độ liên kết quốc tế ngày càng cao, hoạt động đầu tư không chỉ đơn thuần là sự dịch chuyển của dòng vốn.
Đằng sau một dự án đầu tư có thể là những quan hệ sở hữu, kiểm soát doanh nghiệp, chuyển giao công nghệ, tiếp cận dữ liệu, sử dụng đất đai, khai thác tài nguyên và kết nối với các hệ thống hạ tầng có ý nghĩa chiến lược.
Nếu thiếu cơ chế nhận diện, quản lý phù hợp, những hoạt động này có thể bị lợi dụng để che giấu chủ thể thực sự, hợp thức hóa dòng tiền bất hợp pháp, thâu tóm tài sản hoặc tạo lập vị trí kiểm soát tại những lĩnh vực, địa bàn nhạy cảm.

Thu hút đầu tư và bảo vệ an ninh, trật tự không phải là hai mục tiêu đối lập, mà cần được đặt trong một chỉnh thể thống nhất: tạo môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch, an toàn, bền vững; kiên quyết ngăn chặn việc lợi dụng hoạt động đầu tư để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm an ninh và lợi ích quốc gia, dân tộc.
ĐBQH Nguyễn Trung Kiên
Thực tiễn quốc tế cho thấy, các nguy cơ an ninh từ hoạt động đầu tư ngày càng đa dạng, phức tạp.
Không chỉ có những hành vi vi phạm trực tiếp pháp luật về đầu tư, mà còn có thể xuất hiện việc lợi dụng doanh nghiệp, dự án đầu tư để rửa tiền, buôn lậu, lừa đảo, chuyển giao công nghệ trái phép, thu thập thông tin hoặc xâm phạm an ninh quốc gia.
Các phương thức thực hiện cũng ngày càng tinh vi, như sử dụng nhiều tầng doanh nghiệp trung gian, nhờ cá nhân đứng tên hộ, chia nhỏ tỷ lệ sở hữu, che giấu chủ sở hữu hưởng lợi hoặc chuyển vốn qua nhiều tổ chức, cá nhân nhằm làm mờ nguồn gốc và mục đích thực sự của dòng tiền.
Bởi vậy, đổi mới tư duy thu hút đầu tư cần chuyển từ quan niệm chỉ chú trọng số lượng, quy mô vốn đăng ký sang đánh giá toàn diện chất lượng, hiệu quả, tính minh bạch và mức độ an toàn của hoạt động đầu tư.
Thu hút đầu tư phải gắn với bảo vệ an ninh và lợi ích quốc gia, bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh dữ liệu, an ninh công nghệ và trật tự, an toàn xã hội. Đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện Dự thảo Luật Đầu tư.
Bổ sung ưu đãi đầu tư có trọng tâm đối với phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh và công nghiệp lưỡng dụng
Một trong những nội dung cần quan tâm trong hoàn thiện chính sách đầu tư là phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh và công nghiệp lưỡng dụng.

Đây cũng là nội dung đã được thể chế hóa trong Luật Công nghiệp Quốc phòng, an ninh và động viên Công nghiệp (Luật số 38/2024/QH15).
Trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng, năng lực quốc phòng, an ninh ngày càng gắn chặt với khả năng làm chủ công nghệ, tự chủ sản xuất và phát triển các sản phẩm chiến lược.
Nhiều công nghệ như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, vật liệu mới, viễn thông, an ninh mạng, tự động hóa, thiết bị bay không người lái có khả năng ứng dụng đồng thời trong lĩnh vực dân sự và quốc phòng, an ninh.
Việc phát triển các công nghệ này không chỉ góp phần nâng cao năng lực bảo vệ Tổ quốc mà còn tạo ra những ngành kinh tế mới, có giá trị gia tăng cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.
Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào nguồn lực đầu tư công hoặc các doanh nghiệp chuyên trách thì khó có thể khai thác đầy đủ tiềm năng của nền kinh tế. Cần có cơ chế khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân, doanh nghiệp khoa học công nghệ và các nhà đầu tư có năng lực tham gia nghiên cứu, sản xuất, phát triển công nghệ và hình thành chuỗi cung ứng trong nước.
Vì vậy, tôi đề nghị nghiên cứu bổ sung tại khoản 1 Điều 15 của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư về ngành, nghề ưu đãi đầu tư nội dung phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh; nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất sản phẩm, trang thiết bị, vật tư kỹ thuật phục vụ quốc phòng, an ninh; phát triển công nghệ chiến lược, công nghệ lõi và các sản phẩm công nghiệp lưỡng dụng gắn với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
Đồng thời, cần nghiên cứu bổ sung tại Điều 14 về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư các cơ chế hỗ trợ phù hợp đối với hoạt động nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực chất lượng cao, đổi mới thiết bị và phát triển chuỗi cung ứng trong nước.
Đối với Điều 17 về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt, cần xem xét đưa các dự án công nghiệp quốc phòng, an ninh, lưỡng dụng có quy mô, tính chất chiến lược vào nhóm được hưởng chính sách hỗ trợ đặc biệt theo tiêu chí cụ thể.

Việc ưu đãi phải gắn với năng lực thực tế, hiệu quả đầu tư, khả năng làm chủ công nghệ, mức độ đóng góp cho nền kinh tế và yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh; tránh tình trạng lợi dụng danh nghĩa lĩnh vực ưu tiên để hưởng chính sách mà không tạo ra giá trị tương xứng.
Chủ động phòng ngừa đầu tư núp bóng, đầu tư chui và lợi dụng đầu tư để vi phạm pháp luật
Bên cạnh yêu cầu tạo thuận lợi cho đầu tư, cần đặc biệt quan tâm đến những nguy cơ phát sinh từ việc lợi dụng hoạt động đầu tư để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Đầu tư núp bóng, đầu tư chui không chỉ làm sai lệch môi trường cạnh tranh, gây thất thu ngân sách, mà trong những trường hợp nghiêm trọng còn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
Đầu tư núp bóng có thể được thực hiện thông qua việc sử dụng người khác đứng tên thành lập doanh nghiệp, góp vốn, mua cổ phần hoặc nhận chuyển nhượng dự án; sử dụng các tổ chức trung gian để che giấu chủ sở hữu hưởng lợi và người thực sự kiểm soát hoạt động đầu tư.
Đầu tư chui có thể biểu hiện ở việc triển khai dự án khi chưa đáp ứng điều kiện, chưa hoàn thành thủ tục theo quy định hoặc cố tình thay đổi mục tiêu, quy mô, chủ thể đầu tư nhằm né tránh sự kiểm soát của cơ quan có thẩm quyền.
Đáng lo ngại hơn, các hoạt động đầu tư này có thể bị lợi dụng để hợp thức hóa tài sản do phạm tội mà có, rửa tiền, buôn lậu, sản xuất, kinh doanh hàng giả, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản hoặc thực hiện những hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. Trong một số trường hợp, việc thâu tóm doanh nghiệp, quyền sử dụng đất, hạ tầng hoặc tiếp cận công nghệ, dữ liệu có thể tạo ra những rủi ro vượt ra ngoài phạm vi một giao dịch kinh tế thông thường.
Dự thảo Luật đã có những quy định quan trọng về bảo đảm quốc phòng, an ninh, trong đó có khoản 3 Điều 5 về đình chỉ, ngừng, chấm dứt hoạt động đầu tư gây phương hại hoặc có nguy cơ gây phương hại đến quốc phòng, an ninh; Điều 21 về điều kiện bảo đảm quốc phòng, an ninh đối với nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp; Điều 24 về các dự án tại địa bàn có ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh.
Đây là những cơ sở pháp lý cần thiết, song cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và xử lý kịp thời các nguy cơ, thay vì chỉ tập trung vào việc xử lý khi vi phạm đã xảy ra.
Hoàn thiện quy định pháp luật, hình thành cơ chế kiểm soát đầu tư theo mức độ rủi ro
Trước hết, cần nghiên cứu bổ sung tại Điều 5 về chính sách đầu tư kinh doanh nguyên tắc minh bạch chủ thể đầu tư, chủ sở hữu hưởng lợi, nguồn vốn và mục đích đầu tư; nghiêm cấm việc lợi dụng hoạt động đầu tư để che giấu chủ thể thực sự kiểm soát doanh nghiệp, hợp thức hóa tài sản do phạm tội mà có hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
Đối với Điều 21 về góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp, cần bổ sung cơ chế xác minh thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi, người thực sự kiểm soát tổ chức kinh tế, nguồn gốc vốn góp và các bên có liên quan trong những trường hợp cần thiết, nhất là đối với giao dịch tại lĩnh vực, địa bàn nhạy cảm về quốc phòng, an ninh. Cần có biện pháp nhận diện trường hợp sử dụng người đứng tên hộ, nhiều tầng doanh nghiệp trung gian hoặc chia nhỏ tỷ lệ sở hữu nhằm che giấu quyền kiểm soát thực tế, né tránh điều kiện đầu tư.
Đồng thời, cần bổ sung cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin giữa cơ quan đăng ký đầu tư với cơ quan quản lý tài chính, thuế, hải quan và các cơ quan liên quan. Khi phát hiện dấu hiệu bất thường về chủ thể đầu tư, nguồn vốn, dòng tiền hoặc mục đích hoạt động, cần có cơ chế chuyển thông tin, xác minh và áp dụng biện pháp ngăn chặn theo đúng thẩm quyền, trình tự và điều kiện pháp luật quy định.

Một vấn đề quan trọng khác là phải tăng cường kiểm tra, giám sát trong quá trình thực hiện dự án. Việc quản lý không nên chỉ dừng ở khâu cấp phép ban đầu mà cần theo dõi những thay đổi có ý nghĩa về chủ sở hữu hưởng lợi, tỷ lệ góp vốn, người kiểm soát thực tế, nguồn vốn, mục tiêu và quy mô dự án. Nhà đầu tư phải có trách nhiệm kê khai, cập nhật thông tin trung thực, chính xác; trường hợp cố ý che giấu, cung cấp thông tin sai lệch hoặc lợi dụng hoạt động đầu tư để thực hiện hành vi trái pháp luật phải bị xử lý nghiêm.
Tuy nhiên, cơ chế kiểm soát cần được thiết kế trên cơ sở quản lý rủi ro, có tiêu chí rõ ràng, không tạo ra thủ tục tiền kiểm đại trà hoặc gây cản trở hoạt động của nhà đầu tư chân chính. Việc xác minh, tạm dừng hoặc chấm dứt hoạt động đầu tư phải có căn cứ pháp lý, đúng thẩm quyền và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan.
Thu hút đầu tư an toàn, minh bạch là nền tảng cho phát triển bền vững
Hoàn thiện Luật Đầu tư là cơ hội quan trọng để đổi mới tư duy quản lý nhà nước, giải phóng nguồn lực xã hội và tạo động lực phát triển mới cho nền kinh tế. Nhưng một môi trường đầu tư thực sự hấp dẫn không chỉ được đo bằng quy mô vốn đăng ký hay số lượng dự án, mà còn bằng tính minh bạch, sự ổn định, hiệu quả và mức độ an toàn của hoạt động đầu tư.
Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội không phải là rào cản đối với đầu tư. Ngược lại, một cơ chế pháp lý đủ chặt chẽ để phòng ngừa các hành vi lợi dụng đầu tư sẽ củng cố niềm tin của nhà đầu tư chân chính, bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh và bảo đảm các nguồn lực được sử dụng đúng mục đích.
ĐBQH Nguyễn Trung Kiên

Vì vậy, hoàn thiện Luật Đầu tư cần hướng tới sự hài hòa giữa hai yêu cầu: mở rộng không gian phát triển, khuyến khích đầu tư, đổi mới sáng tạo; đồng thời nâng cao năng lực nhận diện, phòng ngừa và ngăn chặn những nguy cơ từ hoạt động đầu tư đối với an ninh, trật tự.
Đây chính là nền tảng để Việt Nam thu hút dòng vốn chất lượng cao, phát triển các ngành công nghiệp chiến lược, nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế và bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia, dân tộc trong tình hình mới.