Từ chủ trương khuyến khích đến cơ chế tôn vinh, trọng dụng và bảo vệ cán bộ dám đổi mới vì lợi ích chungBài 2: Từ bảo vệ cán bộ đến cơ chế đồng hành trong đổi mới, sáng tạo
Quy định số 220-QĐ/TW ngày 30/9/2026 của Ban Bí thư cụ thể hóa Nghị quyết số 24-NQ/TW bằng cơ chế tôn vinh, trọng dụng và bảo vệ cán bộ trong toàn bộ quá trình đổi mới, sáng tạo. Bảo vệ đúng người, đúng việc đòi hỏi nhận diện đúng đề xuất, phân định thẩm quyền, quản trị rủi ro và đánh giá trách nhiệm theo bản chất vụ việc.
Một cơ chế bảo vệ cán bộ chỉ phát huy tác dụng nếu không đợi đến khi rủi ro, sai sót hoặc thiệt hại xảy ra mới bắt đầu xem xét. Trong đổi mới, sáng tạo, bảo vệ phải được hiểu rộng hơn: tạo điều kiện để cán bộ đề xuất, thẩm định, quyết định và tổ chức thực hiện đúng thẩm quyền; đồng hành khi phát sinh khó khăn; giám sát để kịp thời điều chỉnh; và đánh giá khách quan khi kết thúc nhiệm vụ.
Quy định số 220-QĐ/TW ngày 30/9/2026 của Ban Bí thư được ban hành nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 24-NQ/TW, thiết lập cơ chế tôn vinh, trọng dụng và bảo vệ cán bộ dám đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Giá trị của Quy định không chỉ nằm ở các biện pháp xem xét trách nhiệm, mà còn ở việc tạo lập quy trình, tiêu chí và trách nhiệm của các chủ thể tham gia toàn bộ quá trình đổi mới, sáng tạo.
Để cơ chế này vận hành đúng mục tiêu, cần giải quyết đồng thời ba yêu cầu: nhận diện đúng đề xuất thuộc diện khuyến khích; xác định đúng thẩm quyền và phương thức quản trị rủi ro; phân định công bằng giữa rủi ro khách quan, sai sót không cố ý với hành vi thiếu trách nhiệm hoặc cố ý vi phạm.
.jpg)
Nhận diện đúng đề xuất: Không đồng nhất mọi cải tiến với đổi mới đột phá
Điều kiện đầu tiên để tôn vinh, trọng dụng và bảo vệ cán bộ thực chất là xác định đúng tính chất, mục tiêu và phạm vi của đề xuất. Cơ chế đặc thù cần tập trung vào những ý tưởng, giải pháp xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của thực tiễn, có khả năng tháo gỡ điểm nghẽn, xử lý vấn đề mới hoặc tạo chuyển biến rõ rệt về chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ. Những cải tiến nghiệp vụ thông thường thuộc phạm vi công việc thường xuyên vẫn cần được ghi nhận, nhưng không vì thế mà mặc nhiên xếp vào diện áp dụng cơ chế đặc thù.
Phân định này nhằm tránh hai khuynh hướng. Nếu đặt tiêu chí quá hẹp, chỉ những sáng kiến có quy mô lớn hoặc tạo thành tích nổi bật mới được xem xét, nhiều giải pháp thiết thực từ cơ sở có thể bị bỏ qua. Ngược lại, nếu coi mọi thay đổi quy trình hoặc cách làm khác thông lệ đều là đổi mới cần cơ chế bảo vệ đặc thù, nguồn lực thẩm định, giám sát sẽ bị phân tán và chính sách dễ hình thức hóa.
Vì vậy, cần đánh giá đề xuất theo một chỉnh thể gồm: vấn đề thực tiễn cần giải quyết; mục tiêu và lợi ích công; căn cứ chính trị, pháp lý; mức độ mới; tính khả thi; phạm vi tác động; nguồn lực; khả năng nhân rộng; và rủi ro có thể phát sinh. Quy mô hoặc tên gọi của sáng kiến không thể thay thế việc đánh giá bản chất và giá trị thực tiễn.
Đối tượng được xem xét bảo vệ cũng không chỉ là người nêu ý tưởng hoặc người trực tiếp thực hiện. Một đề xuất thường trải qua nhiều khâu: tham mưu, thẩm định, quyết định, bố trí nguồn lực, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá. Trách nhiệm của từng chủ thể phải được xác định theo chức năng, thẩm quyền, mức độ tham gia và lỗi (nếu có), tránh tình trạng cá nhân thực thi phải gánh chịu toàn bộ hậu quả trong khi trách nhiệm của người quyết định hoặc cơ quan có liên quan chưa được xem xét đầy đủ.
Phân loại đề xuất để phân định thẩm quyền và trách nhiệm
Quy định số 220-QĐ/TW phân loại đề xuất đổi mới, sáng tạo thành bốn nhóm: đột phá khâu thực thi; đột phá thể chế; mô hình thí điểm; và không gian thử nghiệm có kiểm soát. Cách tiếp cận này thừa nhận rằng các đề xuất có tính chất, phạm vi tác động và mức độ rủi ro khác nhau, do đó không thể áp dụng một quy trình thẩm định, phê duyệt và giám sát giống nhau cho mọi trường hợp.
Đối với giải pháp đổi mới trong khâu thực thi, thuộc thẩm quyền và phù hợp với quy định hiện hành, yêu cầu quan trọng là xem xét kịp thời, xác định rõ người chịu trách nhiệm và điều kiện thực hiện. Với đề xuất có nội dung đột phá thể chế, mô hình thí điểm hoặc không gian thử nghiệm có kiểm soát, cần đánh giá kỹ hơn về căn cứ, phạm vi, đối tượng, thời hạn, giới hạn thử nghiệm, cơ chế giám sát và phương án xử lý khi phát sinh tình huống ngoài dự kiến. Mức độ thay đổi thể chế và rủi ro càng lớn thì yêu cầu về thẩm quyền và kiểm soát càng chặt chẽ.
Phân loại không chỉ là thao tác hành chính. Đây là cơ sở để xác định cấp nào có quyền quyết định, cơ quan nào thẩm định, chủ thể nào tổ chức thực hiện và cơ chế nào được sử dụng để kiểm soát rủi ro. Trường hợp đề xuất có đặc điểm của nhiều nhóm cần được xác định theo nhóm có mức độ thay đổi thể chế, phạm vi tác động hoặc rủi ro cao hơn. Nếu trong quá trình triển khai xuất hiện nội dung làm thay đổi bản chất hoặc mức độ rủi ro, phải xem xét phân loại lại trước khi tiếp tục.
Đặc biệt, phải phân định rõ vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng với thẩm quyền quản lý nhà nước. Cấp ủy, tổ chức đảng xem xét, cho chủ trương đối với nội dung thuộc phạm vi lãnh đạo; cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền quyết định, phê duyệt theo quy định. Chủ trương của cấp ủy không thay thế quyết định hành chính, không làm phát sinh quyền thực hiện trái quy định pháp luật. Đề xuất vượt thẩm quyền hoặc cần cơ chế khác với quy định hiện hành phải được báo cáo, trình đúng cấp có thẩm quyền.

Trách nhiệm giải trình của người có thẩm quyền cũng cần được thực hiện thực chất. Việc tiếp nhận, xem xét và trả lời đề xuất phải có đầu mối, thời hạn, hồ sơ và lý do rõ ràng. Tình trạng kéo dài, né tránh hoặc không quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền không chỉ làm mất cơ hội đổi mới mà còn chuyển rủi ro tổ chức sang người đề xuất. Quyền kiến nghị của cán bộ và trách nhiệm trả lời của cơ quan có thẩm quyền là những yếu tố cần được vận hành đồng bộ.
Bảo vệ từ sớm thông qua quản trị rủi ro trong toàn bộ chu trình
Quản trị rủi ro cần được coi là một bộ phận cấu thành của đổi mới, sáng tạo, không phải thủ tục bổ sung sau khi đã có quyết định. Trước khi phê duyệt, hồ sơ đề xuất cần làm rõ mục tiêu, căn cứ, tính khả thi, lợi ích dự kiến, tác động tích cực và tiêu cực, điều kiện bảo đảm, rủi ro chính và biện pháp ứng phó. Việc nhận diện sớm giúp cấp có thẩm quyền quyết định trên cơ sở thông tin đầy đủ, đồng thời giúp cán bộ hiểu rõ giới hạn và trách nhiệm của mình.
Trong quá trình thực hiện, cần có cơ chế theo dõi tiến độ, kiểm tra các giả định ban đầu, cập nhật thay đổi của môi trường thực hiện và cảnh báo rủi ro. Khi điều kiện thực tế thay đổi, phải kịp thời điều chỉnh phương án; trường hợp xuất hiện nguy cơ vượt giới hạn đã được chấp thuận, cần xem xét tạm dừng hoặc chấm dứt theo đúng thẩm quyền. Không thể coi quyết định phê duyệt ban đầu là sự cho phép vô điều kiện đối với mọi tình huống phát sinh.
Sau khi kết thúc, đánh giá phải xem xét cả kết quả lẫn quá trình: mục tiêu đạt được đến đâu; nguồn lực được sử dụng thế nào; những tác động ngoài dự kiến là gì; biện pháp phòng ngừa đã được thực hiện ra sao; các chủ thể đã tuân thủ trách nhiệm và thẩm quyền hay chưa. Hồ sơ đề xuất, ý kiến thẩm định, quyết định phê duyệt, báo cáo tiến độ, chỉ đạo điều chỉnh và kết quả kiểm tra cần được lưu giữ đầy đủ. Đây là căn cứ quan trọng để đánh giá khách quan và bảo đảm trách nhiệm giải trình.
Có thể khái quát cơ chế đồng hành thành ba giai đoạn liên tục. Trước khi thực hiện: thẩm định, phân quyền, xác định nguồn lực và giới hạn rủi ro. Trong khi thực hiện: hỗ trợ, phối hợp, giám sát, cảnh báo và điều chỉnh. Sau khi thực hiện: đánh giá toàn diện, phân định trách nhiệm, ghi nhận đóng góp và rút kinh nghiệm. Bảo vệ từ sớm không có nghĩa là bảo đảm trước rằng mọi đề xuất đều thành công; đó là bảo đảm cán bộ được thực hiện đúng quy trình, đúng thẩm quyền và được đánh giá công bằng.
Phân định rủi ro khách quan, sai sót không cố ý và hành vi vi phạm
Điểm khó nhất trong thực tiễn là đánh giá trách nhiệm khi đề xuất đổi mới không đạt mục tiêu hoặc phát sinh thiệt hại. Nếu chỉ căn cứ vào hậu quả để quy kết, cán bộ có thể hình thành tâm lý không dám quyết định; nhưng nếu lấy động cơ đổi mới làm lý do miễn trừ trách nhiệm một cách rộng rãi, cơ chế bảo vệ có thể bị lợi dụng. Vì vậy, việc xem xét phải dựa trên bản chất vụ việc và toàn bộ quá trình thực hiện.
Cần làm rõ cán bộ có thực sự hướng tới lợi ích chung hay không; đề xuất có căn cứ và đã được thẩm định đúng quy trình hay chưa; người thực hiện có tuân thủ quyết định, giới hạn và chỉ đạo được giao không; rủi ro có thể dự báo ở thời điểm quyết định hay không; biện pháp phòng ngừa, khắc phục đã được thực hiện đến mức nào; và mỗi chủ thể có lỗi gì trong phạm vi trách nhiệm của mình. Hậu quả là yếu tố quan trọng nhưng không thể là căn cứ duy nhất.
Rủi ro khách quan có thể phát sinh dù chủ thể đã thực hiện đầy đủ trách nhiệm cần thiết. Sai sót không cố ý cần được đánh giá trong mối quan hệ với năng lực, thông tin, điều kiện và mức độ thận trọng có thể đòi hỏi tại thời điểm thực hiện. Ngược lại, hành vi cố ý làm trái, vụ lợi, che giấu thông tin, lợi dụng chủ trương để tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hoặc thực hiện vượt thẩm quyền phải được xem xét, xử lý nghiêm theo quy định.
Đánh giá cũng phải phân định trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm tập thể, trách nhiệm của người đề xuất, người thẩm định, người quyết định và người tổ chức thực hiện. Không thể quy toàn bộ trách nhiệm cho người trực tiếp thực thi nếu nguyên nhân có liên quan đến quyết định thiếu căn cứ, giao nhiệm vụ không rõ, thiếu nguồn lực hoặc việc kiểm tra, giám sát không được thực hiện đúng trách nhiệm. Đồng thời, cũng không thể dùng trách nhiệm tập thể để xóa nhòa trách nhiệm cá nhân.
Ranh giới rõ ràng giữa bảo vệ và xử lý vi phạm chính là điều kiện bảo đảm uy tín của chính sách. Bảo vệ đúng người, đúng việc giúp củng cố niềm tin; xử lý nghiêm hành vi lợi dụng chính sách giúp giữ vững kỷ luật, kỷ cương. Hai yêu cầu này bổ trợ cho nhau, không loại trừ nhau.
Cần phân định rành mạch phạm vi kỷ luật đảng với trách nhiệm pháp lý của Nhà nước. Điều 12 Quy định số 220-QĐ/TW xác định các trường hợp xem xét không xử lý, miễn hoặc giảm trách nhiệm kỷ luật đảng; còn trách nhiệm hành chính, dân sự, hình sự và nghĩa vụ bồi thường, hoàn trả phải do cơ quan có thẩm quyền xem xét theo pháp luật và cơ chế đặc thù hợp pháp có liên quan. Kết luận của tổ chức đảng không phải là căn cứ đương nhiên để miễn trừ các trách nhiệm pháp lý khác. Ranh giới này vừa bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, vừa ngăn ngừa sự lợi dụng cơ chế bảo vệ.
Bảo vệ thực chất còn bao gồm khôi phục danh dự, uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp khi cán bộ bị phản ánh sai sự thật hoặc bị xem xét, xử lý không đúng và đã có kết luận của cấp có thẩm quyền. Điều 13 Quy định số 220-QĐ/TW đặt ra yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ quyết định xử lý không đúng, xin lỗi, cải chính và phục hồi quyền lợi theo quy định. Một cơ chế chỉ dừng lại ở kết luận không vi phạm mà không khắc phục các hệ quả bất lợi chưa phải là cơ chế bảo vệ đầy đủ.
Tôn vinh, trọng dụng phải gắn với giá trị đóng góp và hiệu quả thực chất
Tôn vinh và trọng dụng không nên dừng ở biểu dương thành tích hoặc khen thưởng sau khi có kết quả. Cần được kết nối với phát hiện nhân tố, giao nhiệm vụ phù hợp, tạo cơ hội phát triển, bố trí và sử dụng cán bộ có năng lực, bản lĩnh, có khả năng tạo ra giá trị mới. Việc ghi nhận phải tương xứng với mức độ đóng góp, bảo đảm công khai, minh bạch và không biến cơ chế đặc thù thành ưu tiên hình thức.
Đánh giá hiệu quả cần xem xét cả giá trị trực tiếp và tác động dài hạn: vấn đề nào được tháo gỡ; chất lượng, tiến độ công việc được cải thiện ra sao; nguồn lực được tiết kiệm hoặc huy động hiệu quả thế nào; mô hình có khả năng nhân rộng không; và lợi ích mang lại cho người dân, doanh nghiệp, cộng đồng là gì. Không nên lấy số lượng đề xuất, tỷ lệ phê duyệt hoặc số lượt biểu dương làm thước đo duy nhất.
Những đề xuất không đạt mục tiêu cũng cần được tổng kết như một nguồn dữ liệu để hoàn thiện chính sách. Nếu thất bại do giả định ban đầu không còn phù hợp, do biến động khách quan hoặc do giới hạn kỹ thuật, cần rút kinh nghiệm về phương án và quản trị rủi ro. Nếu có thiếu trách nhiệm hoặc vi phạm, phải xác định rõ chủ thể và xử lý theo quy định. Cách đánh giá này vừa khuyến khích học hỏi, vừa không dung túng sai phạm.
Quy định số 220-QĐ/TW chỉ thực sự tạo ra chuyển biến khi cán bộ nhìn thấy một quy trình công bằng: đề xuất được xem xét đúng hạn; thẩm quyền và rủi ro được xác định; người đứng đầu đồng hành; kết quả được đánh giá khách quan; đóng góp được trọng dụng, quyền lợi bị ảnh hưởng do xử lý không đúng được phục hồi, còn hành vi cố ý vi phạm bị xử lý nghiêm. Bảo vệ như vậy không phải sự miễn trừ vô điều kiện sau sự cố, mà là cơ chế đồng hành, kiểm soát rủi ro và thực thi trách nhiệm xuyên suốt quá trình đổi mới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Chính trị, Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22/9/2021 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.
2. Chính phủ, Nghị định số 73/2023/NĐ-CP, ngày 29/9/2023 quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.
4. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 22/8/2026 về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới.
5. Ban Bí thư, Quy định số 220-QĐ/TW, ngày 30/9/2026 về cơ chế tôn vinh, trọng dụng và bảo vệ cán bộ dám đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.