Khắc phục độ trễ chính sách, khai thác hiệu quả các dư địa phát triển
Tiếp tục thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội sáng nay, các ĐBQH nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy điều hành, khắc phục độ trễ chính sách, tạo điều kiện để các địa phương phát huy lợi thế và khai thác hiệu quả những nguồn lực còn dư địa, trong đó có nguồn lực từ người cao tuổi.

Sáng 31/10, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng, Quốc hội tiếp tục phiên thảo luận về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027; tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2026, dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2027; tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư công năm 2026 và dự kiến kế hoạch đầu tư công năm 2027; quyết toán ngân sách nhà nước năm 2025…

Thiết lập cơ chế cảnh báo sớm và phản ứng nhanh đối với chính sách
Đánh giá cao kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, ĐBQH Trần Thị Vân (TP. Bắc Ninh) cũng đưa ra bốn câu chuyện từ thực tiễn.

Câu chuyện thứ nhất, một đoạn đường cao tốc được sửa chữa, cơ quan chức năng đặt biển báo hạn chế tốc độ để đảm bảo an toàn cho người tham gia giao thông. Nhưng khi đường đã được sửa xong, mặt đường thông thoáng, điều kiện lưu thông được khôi phục thì biển báo hạn chế tốc độ vẫn còn đó. Người dân vẫn phải đi theo tốc độ giới hạn. Đại biểu cho rằng, đây là độ trễ trong việc chấm dứt chính sách khi điều kiện thực tế đã thay đổi.

Câu chuyện thứ hai, có vốn đầu tư công, có dự án, có nhà thầu, nhưng giá vật liệu xây dựng công bố thấp hơn nhiều so với giá thị trường. Nhà thầu chưa triển khai đã đứng trước nguy cơ bị thua lỗ. Dự án chậm tiến độ, vốn đầu tư không thể giải ngân. Theo đại biểu, đây là độ trễ trong điều chỉnh chính sách trước biến động của thị trường.

Câu chuyện thứ ba, sắp xếp đơn vị hành chính có trụ sở công dôi dư, có thể đầu tư xây dựng trường học, nhưng đề xuất sử dụng đất lại bị từ chối với lý do chưa phù hợp với quy hoạch đất giáo dục. Mặc dù khoản 2 điều 6 Nghị quyết số 248/2025/QH15 của Quốc hội đã có cơ chế cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trụ sở cơ quan sang đất giáo dục khi chưa có quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất. Theo đại biểu, đây là độ trễ trong tổ chức thực hiện chính sách, khiến nguồn lực sẵn có chưa được khai thác.
Câu chuyện thứ tư, tại Phật Sơn, Trung Quốc, một quán lẩu gà bất ngờ nổi tiếng trên mạng xã hội, thu hút hàng nghìn khách mỗi ngày, gây áp lực cho giao thông và hạ tầng công cộng. Chính quyền địa phương không lúng túng, không siết chặt và không đứng ngoài quan sát mà chủ động mở bãi đỗ xe, cải thiện giao thông, bố trí nhà vệ sinh, lực lượng hỗ trợ và kết nối các dịch vụ du lịch lân cận. Từ một quán ăn nhỏ, họ tạo ra một cơ hội phát triển kinh tế cho cả khu vực.
.jpg)
“Từ 4 câu chuyện này cho thấy, chúng ta không thiếu chính sách, cái mà chúng ta đang thiếu là một cơ chế phản ứng đủ nhanh và tinh thần dám chịu trách nhiệm để kết nối những nguồn lực riêng lẻ thành động lực và cơ hội phát triển. Độ trễ trong phản ứng chính sách và tổ chức thực thi đang là điểm nghẽn của năng lực quản trị và điều hành”, đại biểu nhấn mạnh.
Từ thực tế đó, đại biểu Trần Thị Vân đề nghị thiết lập một cơ chế cảnh báo sớm và phản ứng nhanh đối với chính sách. Khi quy định bộc lộ bất cập, ảnh hưởng đến người dân và doanh nghiệp, phải chủ động rà soát, điều chỉnh hoặc chấm dứt. Mỗi vướng mắc thì phải có cơ quan chịu trách nhiệm và thời hạn xử lý cụ thể.

Cần quy định rõ thời hạn phản ứng với chính sách đối với những vấn đề cấp bách, tác động lớn đến sản xuất, kinh doanh và đầu tư. Có cơ chế tiếp nhận, phân loại, xác định cơ quan chủ trì và thời hạn trả lời, chấm dứt tình trạng kiến nghị chuyển qua nhiều cấp nhưng không xác định được ai chịu trách nhiệm cuối cùng và khi nào thì có kết quả.
Đặc biệt, Quốc hội và Chính phủ cần xây dựng cơ chế đánh giá độ trễ chính sách, coi đây là tiêu chí quan trọng để đánh giá năng lực điều hành. Cần đo lường thời gian từ khi phát hiện vướng mắc đến khi xử lý, từ khi tiếp nhận kiến nghị đến khi có kết quả thực chất; đồng thời tăng cường giám sát những chính sách chậm triển khai, kiến nghị kéo dài và cơ hội phát triển bị bỏ lỡ do chậm thực thi.
Đại biểu Trần Thị Vân cũng đề nghị chuyển mạnh từ tư duy quản lý bằng quy trình, thủ tục sang quản lý theo mục tiêu và kết quả thực chất; đổi mới phương thức thanh tra, kiểm tra, đánh giá cán bộ, phân biệt rõ hành vi cố ý vi phạm, vụ lợi với những trường hợp chủ động đổi mới, dám đề xuất, dám chịu trách nhiệm nhưng gặp rủi ro khách quan. Nếu không làm rõ điều này, tâm lý sợ sai, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm sẽ tiếp tục cản trở sự phát triển.
Tăng trưởng phải gắn với điều kiện và nguồn lực của từng địa phương
Phân tích giải pháp thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 – 2030, các đại biểu cũng quan tâm đến các điều kiện để chính sách được thực thi nhanh hơn, bảo đảm các địa phương có đủ điều kiện phát huy nguồn lực, duy trì động lực tăng trưởng.

ĐBQH Lò Văn Thọ (Sơn La) cho rằng, khả năng hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số giữa các địa phương không giống nhau. Báo cáo của Chính phủ cho thấy, có 27/34 địa phương có tốc độ tăng GDP 9 tháng thấp hơn mục tiêu cả năm. Những địa phương tăng trưởng cao chủ yếu có lợi thế về công nghiệp, dịch vụ, FDI, hạ tầng và các dự án động lực.
Trong khi đó, các tỉnh miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn, ít lợi thế phải đồng thời thực hiện những nhiệm vụ chiến lược như giữ đất, giữ rừng, bảo đảm quốc phòng, an ninh, an ninh lương thực, nguồn nước, năng lượng và chăm lo an sinh xã hội.
Đại biểu cho rằng, việc vừa hoàn thành các nhiệm vụ quan trọng, vừa đạt mục tiêu tăng trưởng là thách thức lớn. Do vậy, đề nghị đánh giá đa chiều khả năng tăng trưởng, gắn với yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ chiến lược khác, để các địa phương vừa hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, vừa duy trì động lực phát triển kinh tế bền vững. Trong đó, cần có giải pháp hỗ trợ những địa phương khó khăn, nhất là về hạ tầng giao thông - điều kiện thiết yếu cho phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Ở góc nhìn khác, ĐBQH Nguyễn Thanh Bình (Hà Tĩnh) lưu ý một nguồn lực quan trọng cần được nhìn nhận đúng trong chiến lược phát triển dài hạn là người cao tuổi.
Đại biểu cho biết, Việt Nam hiện có gần 17 triệu người cao tuổi, thuộc nhóm quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Trong khi đó, GDP bình quân đầu người mới đạt khoảng 5.400 - 5.500 USD, cho thấy đất nước đang bước vào giai đoạn dân số già khi mức thu nhập còn hạn chế.

Từ kinh nghiệm khảo sát tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Đức và Trung Quốc, đại biểu cho rằng, cần thay đổi cách nhìn về người cao tuổi. Tại các nước phát triển, nhóm từ 60 tuổi trở lên đóng góp hơn 50% tổng mức chi tiêu tiêu dùng, tạo nên thị trường kinh tế bạc có quy mô lớn. Với Việt Nam, người cao tuổi không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách an sinh mà còn là nguồn lực đóng góp cho sự phát triển đất nước.
Theo đại biểu, cần nâng cao nhận thức, chuyển từ tư duy dân số già thành dân số vàng về kinh nghiệm; từ an sinh, bảo trợ sang đầu tư tạo giá trị mới. Thách thức già hóa dân số cần được chuyển hóa thành động lực tăng trưởng mới.
Đại biểu đề nghị bổ sung vào Nghị quyết của Quốc hội nhiệm vụ nâng cao nhận thức, chủ động thích ứng với già hóa dân số; coi người cao tuổi là động lực phát triển mới và từng bước hình thành hệ sinh thái kinh tế bạc.

Cùng với đó, cần ban hành chiến lược quốc gia về phát triển kinh tế bạc, trình dự án Luật Người cao tuổi sửa đổi; có chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng, đào tạo để thu hút nguồn lực xã hội đầu tư các tổ hợp y tế, dưỡng lão và mô hình chăm sóc người cao tuổi.
Đáng chú ý, đại biểu đề xuất cho phép tái sử dụng các cơ sở nhà, đất dôi dư tại xã, phường, đặc khu thành cơ sở chăm sóc, sinh hoạt cho người cao tuổi theo mô hình “sáng đi, tối về”. Đồng thời, mở rộng hợp tác quốc tế, chủ động tham gia thúc đẩy xây dựng công ước quốc tế về người cao tuổi.