Chính sách và cuộc sống

Mở cơ chế, đồng bộ điều kiện thực thi

Nguyễn Bình • 31/10/2026 06:59

"Tâm lý e ngại trách nhiệm của người đứng đầu các tổ chức khoa học, công nghệ công lập và cơ quan quản lý vẫn còn phổ biến".

Nhận định của Thường trực Ủy ban Công tác đại biểu khi thẩm tra Báo cáo của Chính phủ về kết quả thực hiện Nghị quyết số 193/2025/QH15 của Quốc hội cho thấy một nghịch lý trong triển khai chính sách: cơ chế đặc thù đã được thiết lập nhưng những người được trao quyền vẫn chưa thực sự yên tâm vận dụng.

Nghị quyết 193 đã mở ra nhiều cơ chế nhằm tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó có những quy định trực tiếp liên quan đến cán bộ, công chức, viên chức. Tuy nhiên, kết quả thực hiện bước đầu cho thấy dù cơ chế đã mở nhưng vẫn chậm đi vào cuộc sống.

Đơn cử như cơ chế quản trị rủi ro trong nghiên cứu khoa học. Điều 4 Nghị quyết 193 và Nghị định số 88/2025/NĐ-CP ngày 13/4/2025 của Chính phủ đã chuyển cách tiếp cận sang chấp nhận rủi ro có điều kiện, gắn với quản trị rủi ro và trách nhiệm giải trình; đồng thời quy định miễn trách nhiệm dân sự, không thu hồi kinh phí đối với tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy trình, sử dụng ngân sách đúng mục tiêu. Tuy nhiên, theo Thường trực Ủy ban Công tác đại biểu, ranh giới giữa "rủi ro khách quan trong nghiên cứu" và "vi phạm quy trình quản lý tài chính" chưa được lượng hóa rõ ràng. Khi thiếu tiêu chí phân định, người thực hiện và cơ quan thanh tra, kiểm tra sẽ lúng túng, còn người đứng đầu vẫn khó yên tâm quyết định.

Hay các điều kiện để thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Điều 3 Nghị quyết 193 cho phép viên chức, giảng viên, nhà nghiên cứu tại các viện, trường công lập góp vốn, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Nhưng đến nay chưa ghi nhận viện, trường công lập nào thành lập hoặc tham gia thành lập doanh nghiệp theo cơ chế này. Những vướng mắc về kiểm soát xung đột lợi ích giữa nhiệm vụ chuyên môn và hoạt động điều hành doanh nghiệp, định giá tài sản trí tuệ để góp vốn, cũng như đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của viên chức kiêm nhiệm... được cho là nguyên nhân khiến chính sách chưa vận hành được.

Bài toán nhân lực cũng tương tự. Sau sắp xếp tổ chức bộ máy, nhiều đơn vị cấp cơ sở thiếu nhân lực chuyên trách về chuyển đổi số, công nghệ cao, bán dẫn, an toàn thông tin; tình trạng cán bộ kiêm nhiệm còn phổ biến, trong khi kinh phí và cơ sở vật chất hạn chế. Thường trực Ủy ban Công tác đại biểu đặc biệt lưu ý khó khăn tại khu vực công, nhất là chính quyền cấp xã sau sắp xếp, do chế độ tiền lương, đãi ngộ thiếu sức cạnh tranh, khó thu hút và giữ chân chuyên gia. Chính sách ưu đãi thuế hiện cũng chủ yếu hướng đến nhân lực công nghệ cao trực tiếp làm nghiên cứu và phát triển, chưa đáp ứng nhu cầu nhân lực chuyển đổi số trong bộ máy nhà nước.

Những ví dụ trên cho thấy, để chính sách thực sự đi vào cuộc sống, cần tiếp tục hoàn thiện các điều kiện, như: tiêu chí phân định rủi ro và trách nhiệm tài chính; quy trình kiểm soát xung đột lợi ích, định giá tài sản trí tuệ; chính sách đãi ngộ đủ sức thu hút nhân lực và năng lực tổ chức thực hiện tại cơ sở.

Không thể phủ nhận nỗ lực vô cùng lớn của Chính phủ trong hoàn thiện thể chế nhằm đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Chỉ trong vòng chưa đến 2 năm qua, Chính phủ đã chỉ đạo các cơ quan xây dựng, trình Quốc hội ban hành 30 luật liên quan (8 luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; 7 luật về chuyển đổi số và 15 luật chung); đồng thời ban hành theo thẩm quyền 70 nghị định, Thủ tướng Chính phủ ban hành 90 quyết định.

Báo cáo của Chính phủ về kết quả thực hiện Nghị quyết 193 gửi đến Kỳ họp thứ Hai của Quốc hội đã đề ra 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, trong đó tập trung hoàn thiện thể chế, cơ chế tài chính, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, hỗ trợ doanh nghiệp, nâng cao năng lực thực thi và tăng cường kiểm tra, giám sát.

Từ kết quả triển khai thực hiện nghị quyết trong gần 2 năm qua cho thấy, cần chuyển trọng tâm sang tháo gỡ vướng mắc trong tổ chức thực hiện. Các nhiệm vụ phải được cụ thể hóa theo từng điểm nghẽn, có địa chỉ trách nhiệm và thời hạn hoàn thành rõ ràng. Trước mắt, cần ưu tiên hướng dẫn về khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, phân loại rủi ro, xác định trách nhiệm tài chính và định giá tài sản trí tuệ; thiết lập cơ chế kiểm soát, hậu kiểm phù hợp đối với các chính sách đặc thù về chỉ định thầu, giao quyền, hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp...

Điều quan trọng nhất là phải tạo được sự rõ ràng trong cả quyền hạn lẫn trách nhiệm của người thực thi. Người đứng đầu cần biết giới hạn rủi ro được chấp nhận, điều kiện được miễn trách nhiệm và nghĩa vụ giải trình khi sử dụng cơ chế đặc thù. Khi những căn cứ này chưa đầy đủ, tâm lý an toàn, né tránh trách nhiệm vẫn có thể lấn át yêu cầu đổi mới. Để những cơ chế, chính sách đặc biệt của Nghị quyết 193 phát huy mạnh mẽ hiệu quả trong thực tiễn, cần bảo đảm đồng bộ các điều kiện để người có thẩm quyền dám quyết định, dám chịu trách nhiệm và thực hiện đúng quy định.

Nguyễn Bình