Sinh học tổng hợp sẽ là “chip bán dẫn” để nông nghiệp Việt Nam chuyển mình
Để giữ vững đà tăng trưởng và tạo bước đột phá cho nông nghiệp Việt Nam, ĐBQH Nguyễn Thị Lan (Hà Nội) cho rằng cần chuyển từ làm chủ sản lượng sang làm chủ công nghệ lõi. Trong đó, công nghệ sinh học tổng hợp được ví như “chip bán dẫn” của nền nông nghiệp tương lai.
Làm chủ công nghệ lõi, gỡ “nút thắt cổ chai” của nông nghiệp
Chiều 30/10, phát biểu thảo luận tại hội trường về tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và kế hoạch năm 2027, ĐBQH Nguyễn Thị Lan (Hà Nội) bày tỏ sự thống nhất và đánh giá cao báo cáo của Chính phủ. Theo đại biểu, tăng trưởng GDP 9 tháng đạt trên 9%, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vượt 56 tỷ USD trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động là những kết quả đáng tự hào, khẳng định sự lãnh đạo, điều hành quyết liệt, hiệu quả của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và nỗ lực của toàn xã hội. Đặc biệt, để giữ vững đà tăng trưởng và đưa nông nghiệp tiếp tục bứt phá, đại biểu cho rằng Việt Nam cần có một “chip bán dẫn” của riêng mình, đó chính là công nghệ sinh học tổng hợp.

Theo ĐBQH Nguyễn Thị Lan, nông nghiệp nước ta đã bảo đảm vững chắc an ninh lương thực, trở thành trụ đỡ quan trọng của nền kinh tế. Tuy nhiên, theo đại biểu, ngành nông nghiệp vẫn đang đối mặt với một “nút thắt cổ chai” mang tính chiến lược khi phụ thuộc 60–70% nguồn đạm và phụ gia thức ăn chăn nuôi nhập khẩu; nhiều loại giống chất lượng cao, enzyme và chế phẩm phục vụ chế biến sâu vẫn phải nhập khẩu từ bên ngoài.
"Tôi cho rằng, thước đo của nông nghiệp Việt Nam giai đoạn tới không chỉ dừng lại ở quy mô sản lượng, mà căn bản phải là mức độ làm chủ công nghệ lõi. Bởi chỉ khi làm chủ được chuỗi cung ứng đầu vào, giá trị gia tăng giữ lại cho đất nước mới thực sự bền vững và vị thế nông sản Việt Nam mới thêm phần vững chắc", ĐBQH Nguyễn Thị Lan phân tích.
Theo đại biểu, chìa khóa tạo đột phá cho bài toán này là công nghệ sinh học tổng hợp (Synthetic Biology), được xem như “chip bán dẫn” của nền nông nghiệp tương lai. Nếu chip bán dẫn là công nghệ lõi của ngành điện tử, thì sinh học tổng hợp cho phép lập trình tế bào sống thành những nhà máy siêu vi, phục vụ sản xuất chính xác nguồn đạm sinh học, enzyme, vaccine và các chế phẩm thay thế hóa chất độc hại.

Thực tiễn thế giới cho thấy sinh học tổng hợp đã trở thành ngành công nghiệp có quy mô hàng trăm tỷ USD, được Mỹ, Trung Quốc và Liên minh châu Âu xác định là động lực tăng trưởng ngang hàng với trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ bán dẫn. Trung Quốc đã thành công trong việc sử dụng nấm men chuyển hóa methanol thành nguồn đạm ở quy mô công nghiệp, góp phần giải quyết bài toán thức ăn chăn nuôi.
Đại biểu đánh giá, Quyết định số 21/2026 của Thủ tướng Chính phủ đưa công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến vào nhóm công nghệ chiến lược quốc gia là định hướng đúng đắn, kịp thời. Đây là cơ sở để thúc đẩy nông nghiệp chủ động nguồn giống và thức ăn, kiểm soát dịch bệnh từ gốc, xanh hóa sản xuất và từng bước thoát khỏi “bẫy gia công giá trị thấp”.
Sau 40 năm đổi mới, đã đến lúc nông nghiệp Việt Nam phải chuyển từ làm chủ sản lượng sang làm chủ công nghệ lõi, từ xuất khẩu nông sản sang từng bước xuất khẩu công nghệ nông nghiệp. Đó là con đường bền vững để khẳng định vị thế đất nước bằng tri thức và công nghệ.
ĐBQH Nguyễn Thị Lan (Hà Nội)
Bốn nhóm giải pháp đột phá đưa công nghệ sinh học vào thực tiễn
Để đưa công nghệ sinh học tổng hợp vào chuỗi sản xuất, ĐBQH Nguyễn Thị Lan kiến nghị Chính phủ tập trung triển khai 4 nhóm giải pháp đột phá.
Một là, sớm ban hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) cho sản phẩm sinh học nông nghiệp mới. Đại biểu đề nghị thiết lập quy trình liên thông từ thử nghiệm tại các viện, trường đủ điều kiện đến cấp phép lưu hành; cắt giảm tối đa các rào cản thủ tục, đồng thời kiểm soát nghiêm ngặt, minh bạch về an toàn sinh học.
Hai là, tháo gỡ rào cản thể chế tài chính và tài sản công để phát triển doanh nghiệp spin-off trong trường đại học. Theo đó, đại biểu kiến nghị sớm ban hành hướng dẫn cụ thể về định giá và góp vốn bằng kết quả nghiên cứu khoa học; thí điểm cơ chế vốn mồi đồng tài trợ cùng doanh nghiệp cho giai đoạn sản xuất thử (pilot). Đồng thời, cần thực thi thực chất nguyên tắc chấp nhận rủi ro khoa học theo quy định của pháp luật, tạo điểm tựa niềm tin để các nhà khoa học mạnh dạn tham gia giải quyết những bài toán khó.

Ba là, quy hoạch hạ tầng nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm dùng chung. Trong đó, cần tập trung nguồn lực đầu tư có trọng tâm cho các phòng thí nghiệm hiện đại và hệ thống sản xuất thử nghiệm (pilot) dùng chung tại các viện, trường đại học trọng điểm. Hạ tầng này cần được vận hành theo cơ chế mở, tăng cường kết nối giữa viện, trường và doanh nghiệp, tối ưu hóa hiệu suất sử dụng tài sản công, tránh đầu tư dàn trải, lãng phí ngân sách.
Bốn là, đào tạo nguồn nhân lực tinh hoa, có năng lực dẫn dắt và làm chủ công nghệ sinh học tổng hợp. Theo đó, con người là yếu tố quyết định tạo nên đột phá công nghệ; đồng thời đại biểu đề nghị Chính phủ đặt hàng đào tạo chuyên sâu về công nghệ sinh học tiên tiến và sinh học tổng hợp, gắn với những bài toán thực tiễn của doanh nghiệp.
Cùng với đó, cần tập trung xây dựng đội ngũ nhà khoa học đầu ngành có khả năng làm chủ công nghệ lõi, đồng thời phát triển lực lượng quản lý và tư vấn khoa học có năng lực dẫn dắt, kết nối chuỗi giá trị. Chính sách đãi ngộ đặc thù cũng cần được triển khai để thu hút và giữ chân các chuyên gia giỏi.