Sơn La đẩy mạnh số hóa chuỗi giá trị cà phê Arabica
Sở hữu vùng nguyên liệu Arabica có lợi thế về điều kiện sinh thái, tỉnh Sơn La đang đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm nâng cao chất lượng, phát triển chế biến sâu và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Mục tiêu số hóa hơn 90% vùng trồng cà phê vào năm 2030
Với địa hình đồi núi, đất đai phù hợp và khí hậu phân hóa theo độ cao, Sơn La có nhiều lợi thế phát triển cà phê Arabica chất lượng cao, cà phê đặc sản. Cây cà phê ngày càng giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu nông nghiệp, góp phần nâng cao thu nhập và thúc đẩy kinh tế địa phương.
Theo UBND tỉnh Sơn La, ước tính đến hết năm 2026, toàn tỉnh có trên 44.000 ha cà phê, sản lượng đạt khoảng 50.960 tấn cà phê nhân. Trong đó, diện tích được chứng nhận sản xuất bền vững và tương đương đạt hơn 35.400 ha; diện tích cà phê đặc sản khoảng 2.600 ha, sản lượng gần 2.000 tấn cà phê nhân. Tỉnh duy trì hai vùng cà phê ứng dụng công nghệ cao với diện tích hơn 1.039 ha và năm chuỗi liên kết sản xuất với tổng diện tích 2.160 ha.

Cùng với phát triển vùng nguyên liệu, Sơn La chú trọng tái canh, ghép cải tạo, nâng cao chất lượng giống và mở rộng các mô hình sản xuất theo tiêu chuẩn. Chỉ dẫn địa lý “Cà phê Sơn La” được bảo hộ, tạo cơ sở phát triển thương hiệu và nâng cao giá trị sản phẩm. Năm 2025, lượng cà phê tham gia xuất khẩu đạt 27.800 tấn, giá trị 112,38 triệu USD, tăng 26,6% so với năm trước; sản phẩm đã có mặt tại 20 quốc gia thuộc các khu vực EU, Bắc Mỹ, Trung Đông và ASEAN.
Một trong những hướng đi trọng tâm hiện nay là ứng dụng công nghệ số trong quản lý vùng nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc; đặc biệt nhằm đáp ứng Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR).
Đồng thời, tỉnh cũng đã triển khai thí điểm số hóa dữ liệu vùng trồng tại hai xã Nậm Lầu và Mường Chanh, thu thập thông tin trên 6.098,9 ha với 18.766 lô cà phê. Trên cơ sở đó, việc rà soát, thu thập dữ liệu được mở rộng tại 28 xã, phường có diện tích cà phê tập trung. Đến ngày 18/10/2026, toàn tỉnh đã thu thập dữ liệu 58.336 ha với 158.416 lô cà phê.
Việc số hóa giúp từng bước chuẩn hóa thông tin về vị trí, ranh giới và hiện trạng vùng trồng, tạo cơ sở cho truy xuất nguồn gốc, quản lý sản xuất và kết nối dữ liệu trong chuỗi cung ứng. Khi được liên thông với thông tin thu mua, chế biến và xuất khẩu, dữ liệu còn hỗ trợ kiểm soát chất lượng, nâng cao tính minh bạch và khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế.
Tỉnh cũng định hướng phát triển cà phê đặc sản, đẩy mạnh chế biến sâu, ứng dụng công nghệ bảo quản, phân loại và xử lý phụ phẩm, nước thải.
Theo mục tiêu đến năm 2030, Sơn La phấn đấu ổn định diện tích cà phê ở mức 50.000 ha, sản lượng đạt 100.000 tấn cà phê nhân; trên 90% diện tích được số hóa gắn với truy xuất nguồn gốc, tỷ lệ cà phê quả tươi được chế biến quy mô công nghiệp đạt trên 80% và tỷ lệ cà phê nhân chế biến sâu đạt trên 15%.
Tháo gỡ điểm nghẽn, phát triển chuỗi cà phê bền vững
Dù đạt nhiều kết quả, phát triển chuỗi cà phê Arabica tại Sơn La vẫn đối mặt với những hạn chế về sản xuất, dữ liệu và chế biến. Địa hình chia cắt, giao thông khó khăn, nguồn nước chưa chủ động tại một số vùng khiến việc áp dụng cơ giới hóa và tổ chức sản xuất tập trung còn nhiều trở ngại. Chất lượng nguyên liệu giữa các hộ, các vùng chưa đồng đều, ảnh hưởng đến hiệu quả thu mua và chế biến sản phẩm chất lượng cao.
Đáng chú ý, dữ liệu đất đai và ranh giới vùng trồng tại một số khu vực chưa thống nhất. Hồ sơ địa chính chưa được cập nhật đầy đủ, trong khi ranh giới giữa đất sản xuất nông nghiệp và đất lâm nghiệp có nơi chưa được xác định rõ trên thực địa. Những bất cập này gây khó khăn cho việc xác minh nguồn gốc vùng trồng và đáp ứng yêu cầu EUDR. Bên cạnh đó, hạ tầng viễn thông tại một số địa bàn còn hạn chế, trình độ sử dụng công nghệ số của người dân chưa đồng đều.
Ở khâu chế biến, toàn tỉnh có khoảng 20 doanh nghiệp, hợp tác xã và cơ sở tham gia thu mua, sơ chế, chế biến cà phê; trong đó, bảy cơ sở chế biến quy mô công nghiệp và năm đơn vị tham gia chế biến sâu. Năng lực chế biến công nghiệp mới đáp ứng trên 50% sản lượng cà phê quả tươi. Hoạt động sơ chế tại một số hộ vẫn nhỏ lẻ, phơi sấy thủ công; việc tự xát quả tươi bằng thiết bị công suất nhỏ có thể gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.
Để khắc phục, Sơn La định hướng tái canh khoảng 9.800 ha cà phê, lựa chọn giống Arabica có năng suất, chất lượng cao, phù hợp điều kiện sinh thái. Đồng thời, tăng cường quản lý dịch hại, sử dụng tiết kiệm nước và phân bón, kiểm soát mở rộng diện tích gắn với quy hoạch và bảo vệ rừng.
Cùng với nâng cao chất lượng vùng trồng, tỉnh cần thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất từ cung ứng giống, hướng dẫn kỹ thuật, thu hái đến thu mua, chế biến và tiêu thụ. Cơ chế thu mua gắn với chất lượng nguyên liệu sẽ khuyến khích người dân tuân thủ quy trình sản xuất, tạo nguồn cung ổn định cho cơ sở chế biến.
Chuyển đổi số cần được triển khai đồng bộ hơn thông qua việc hoàn thiện dữ liệu vùng trồng, chuẩn hóa thông tin các lô cà phê và kết nối với hệ thống thu mua, chế biến, xuất khẩu.
Trên cơ sở đó, Sơn La kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường sớm hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu vùng trồng phục vụ EUDR, thống nhất cấu trúc và tiêu chuẩn dữ liệu; bảo đảm khả năng tích hợp thông tin từ địa phương lên hệ thống quốc gia, tránh thu thập trùng lặp và lãng phí nguồn lực.
Đồng thời, cần có cơ chế hỗ trợ đổi mới công nghệ, đầu tư hạ tầng vùng nguyên liệu, phát triển chế biến sâu và xử lý môi trường; gắn nhiệm vụ khoa học, công nghệ với doanh nghiệp có năng lực đầu tư, thu mua và tiêu thụ sản phẩm.