Hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động ngay từ giai đoạn khởi đầu
Đồng tình với chủ trương miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa mới thành lập, song, các ĐBQH cũng đề nghị, cần phân biệt giữa thời gian doanh nghiệp thuộc diện được miễn thuế và thời gian doanh nghiệp thực sự phát sinh lợi ích từ chính sách này; quy định rõ trường hợp tổ chức lại, chia tách, chuyển đổi hoặc có quan hệ liên kết để ngăn ngừa việc lợi dụng chính sách.
Cần xác định rõ ngưỡng doanh thu không quá 10 tỷ đồng/năm được áp dụng phương pháp tính thuế tối giản
Thảo luận tại Hội trường về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, nội dung được nhiều ĐBQH quan tâm là chính sách thuế và kế toán quy định tại Điều 9 dự thảo Luật. Theo đó, dự luật đề xuất doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ được áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn mức thuế suất thông thường theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp. Doanh nghiệp nhỏ và vừa được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu.

Tại Báo cáo giải trình số 879, Bộ Tài chính nêu quan điểm, việc giữ nguyên quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm như nêu trên nhằm hỗ trợ doanh nghiệp ngay từ giai đoạn khởi đầu, khuyến khích doanh nghiệp sớm nâng cao hiệu quả hoạt động và bảo đảm khả năng cân đối của ngân sách.
Đồng tình với chủ trương miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa mới thành lập, tuy nhiên, ĐBQH Nguyễn Văn Thân (TP. Hồ Chí Minh) đề nghị, cần có chính sách sát hơn và thực tế hơn. Cụ thể, cần sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 9 dự thảo Luật nội dung “doanh nghiệp nhỏ và vừa được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm kể từ khi có lợi nhuận, nhưng không quá 5 năm kể từ khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu”.

Cùng với đó, đại biểu đồng tình với việc cần xác định rõ ngưỡng doanh thu không quá 10 tỷ đồng trên một năm được áp dụng phương pháp tính thuế tối giản ngay trong dự thảo Luật tại khoản 3 Điều 9; đồng thời, tán thành giao Chính phủ quyết định điều chỉnh mức doanh thu nêu trên phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội qua từng thời kỳ.
Song, đại biểu Nguyễn Văn Thân cũng đề nghị, cần quy định rõ trong dự thảo Luật theo hướng điều chỉnh mức doanh thu tăng lên mà không thấp hơn 10 tỷ đồng/năm. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để khẳng định việc hỗ trợ của Nhà nước trong quá trình phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Cho rằng, cần phân biệt giữa thời gian doanh nghiệp thuộc diện được miễn thuế và thời gian doanh nghiệp thực sự phát sinh lợi ích từ chính sách này, ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh (Lâm Đồng) phân tích, việc miễn thuế chỉ mang lại lợi ích tài chính trực tiếp khi doanh nghiệp có số thuế đáng lẽ phải nộp. Đối với doanh nghiệp chưa phát sinh nghĩa vụ thuế trong những năm đầu, chính sách miễn thuế không trực tiếp cải thiện dòng tiền, bởi doanh nghiệp vốn chưa có khoản thuế phải nộp để được miễn.

Trong khi đó, những doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu phát triển công nghệ, xây dựng dây chuyền sản xuất hoặc phát triển sản phẩm mới thường cần thời gian dài trước khi có thể thương mại hóa và tạo ra thu nhập chịu thuế. Những doanh nghiệp này có thể kết thúc thời hạn miễn thuế trước khi phát sinh nghĩa vụ thuế, trong khi các doanh nghiệp sớm có số thuế phải nộp lại được hưởng ngay từ chính sách này.
“Như vậy, cùng được áp dụng chính sách miễn thuế trong 3 năm đầu thành lập, nhưng mức độ thụ hưởng thực tế lại rất khác nhau giữa các doanh nghiệp. Đặc biệt, thời gian chưa phát sinh nghĩa vụ thuế không nhất thiết phản ánh doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, mà còn xuất phát từ những đặc thù ngành nghề và chu kỳ đầu tư”, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh nêu quan điểm.
Quy định rõ trường hợp tổ chức lại, chia tách, chuyển đổi
Chỉ rõ khoản 1, khoản 2 Điều 9 chưa xác định cụ thể mức thuế suất hoặc nguyên tắc áp dụng ưu đãi tại chính điều khoản này, mà dẫn chiếu sang Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, ĐBQH Đào Chí Nghĩa (Cần Thơ) nhấn mạnh, nếu pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã quy định mức thuế suất ưu đãi theo doanh thu hoặc các tiêu chí khác, cần làm rõ việc xác định đối tượng và áp dụng chính sách theo quy định nào, tránh hiểu rằng doanh nghiệp đương nhiên được hưởng thêm mức ưu đãi khác.

Mặt khác, khoản 2 Điều 9 quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm kể từ khi có cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu. Cách tính này, theo đại biểu Đào Chí Nghĩa, có thể chưa bảo đảm đối với doanh nghiệp được hưởng ưu đãi trong giai đoạn thực sự phát sinh thu nhập chịu thuế; doanh nghiệp mất nhiều năm đầu tư chưa có lãi, có thể hết thời gian ưu đãi trước khi dẫn đến khả năng được thụ hưởng.
Do đó, đại biểu Đào Chí Nghĩa đề nghị, cơ quan soạn thảo tiếp tục nghiên cứu thời điểm ưu đãi gắn với năm đầu phát sinh trong thu nhập chịu thuế; đồng thời, đặt giới hạn tính từ ngày đăng ký lần đầu; quy định rõ trường hợp tổ chức lại, chia tách, chuyển đổi hoặc có quan hệ liên kết để ngăn ngừa việc lợi dụng chính sách.
Quan trọng hơn, phải rà soát đồng bộ với pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp và các nghị quyết có liên quan, để tránh tình trạng luật có quy định một cơ chế nhưng luật thuế chuyên ngành lại không có quy trình thực hiện tương ứng.
Đối với hoạt động kế toán, cần cụ thể hóa nguyên tắc đơn giản hóa theo quy mô, tăng sử dụng dữ liệu số và không yêu cầu doanh nghiệp kê khai lại những thông tin nhà nước đã có.

Từ những phân tích trên, đại biểu Đào Chí Nghĩa đề nghị, điều chỉnh khoản 1 Điều 9 theo hướng: Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ được áp dụng thuế suất, thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp. Việc xác định đối tượng, điều kiện, mức thuế ưu đãi được thực hiện thống nhất theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp.
Đồng thời, điều chỉnh khoản 2 Điều 9 theo hướng: Doanh nghiệp nhỏ và vừa được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp. Điều kiện được hưởng ưu đãi, thời điểm bắt đầu và cách tính thời gian miễn thuế, các trường hợp không được hưởng ưu đãi và việc áp dụng đồng thời với các chính sách ưu đãi thuế khác được thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp.
Về mặt đánh giá hiệu quả chính sách, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh đề nghị, cơ quan soạn thảo không chỉ căn cứ vào số lượng doanh nghiệp thuộc diện được miễn thuế và tổng số thuế được miễn, mà cần làm rõ tỷ lệ doanh nghiệp thực sự được phát sinh lợi ích, mức ưu đãi thực nhận và sự khác biệt giữa các nhóm doanh nghiệp theo ngành nghề, đặc điểm đầu tư và thời gian phát sinh nghĩa vụ thuế. Trên cơ sở đó, rà soát mức độ đáp ứng của các chính sách hỗ trợ hiện hành; đồng thời nghiên cứu các công cụ hỗ trợ có mục tiêu đối với những doanh nghiệp có chu kỳ nghiên cứu, đầu tư và thương mại hóa sản phẩm dài, nhất là doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ, bảo đảm phù hợp với nguồn lực ngân sách và tránh trùng lặp chính sách.