Ý kiến đại biểu

Thiết kế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sát hơn với điều kiện thực tế

Trần Tâm • 29/10/2026 18:53

Chiều 29/10, góp ý dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, ĐBQH Nguyễn Cao Sơn (Phú Thọ) đề nghị, thiết kế chính sách sát hơn với điều kiện thực tế của từng địa bàn; tháo gỡ điểm nghẽn trong tiếp cận công nghệ, chuyển đổi số và dịch vụ kỹ thuật; có cơ chế vốn đối ứng, thanh toán phù hợp với khả năng tài chính của doanh nghiệp.

Làm rõ đối tượng, phạm vi thụ hưởng

Từ thực tiễn hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp tỉnh Phú Thọ, đặc biệt tại địa bàn Hòa Bình trước khi sắp xếp đơn vị hành chính, đại biểu Nguyễn Cao Sơn cho rằng, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được thiết kế sát hơn với điều kiện thực tế của từng địa bàn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn và vùng An toàn khu.

Đối với Điều 17 của dự thảo Luật, quy định về hỗ trợ doanh nghiệp tại các địa bàn miền núi, biên giới, hải đảo đã thể hiện sự quan tâm đến những khu vực còn nhiều khó khăn. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị nghiên cứu bổ sung rõ đối tượng doanh nghiệp hoạt động tại các xã, vùng An toàn khu đã được cấp có thẩm quyền công nhận nhưng còn bất lợi về hạ tầng, kết nối thị trường và khả năng tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ.

ĐBQH Nguyễn Cao Sơn (Phú Thọ) phát biểu thảo luận. Ảnh: Phạm Thắng
ĐBQH Nguyễn Cao Sơn (Phú Thọ) phát biểu thảo luận. Ảnh: Phạm Thắng

Theo đại biểu Nguyễn Cao Sơn, thực tiễn sau sắp xếp đơn vị hành chính đặt ra yêu cầu phải làm rõ hơn phạm vi áp dụng chính sách. Nhiều xã mới được hình thành trên cơ sở sáp nhập cả khu vực thuộc và không thuộc diện An toàn khu, có thể dẫn đến lúng túng trong việc xác định địa bàn và đối tượng thụ hưởng.

Vì vậy, cần phân biệt rõ tiêu chí công nhận An toàn khu với tiêu chí đánh giá mức độ khó khăn về kinh tế – xã hội, qua đó bảo đảm hỗ trợ đúng đối tượng, đúng nhu cầu, tránh dàn trải nguồn lực.

Đặc biệt, đại biểu đề nghị công khai danh mục đối chiếu địa danh, phạm vi địa bàn được công nhận và đầu mối xác định đối tượng thụ hưởng sau sắp xếp đơn vị hành chính. Đây là cơ sở để doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch đầu tư, tổ chức sản xuất, kinh doanh và sử dụng lao động; đồng thời giúp cơ quan thực thi chính sách thống nhất trong quá trình hướng dẫn, giải quyết hồ sơ.

Hỗ trợ chuyển đổi số phải gắn với khả năng vận hành thực tế

Một nội dung khác được đại biểu Nguyễn Cao Sơn nhấn mạnh là tháo gỡ những điểm nghẽn trong tiếp cận công nghệ, chuyển đổi số và dịch vụ kỹ thuật của doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Dẫn tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đại biểu cho rằng, đổi mới công nghệ và nâng cao hiệu quả quản trị, sản xuất, kinh doanh là yêu cầu quan trọng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

1k63d6gs6_48dgb4.jpeg
Đoàn ĐBQH tỉnh Phú Thọ tham dự phiên thảo luận. Ảnh: Phạm Thắng

Tuy nhiên, với các doanh nghiệp ở vùng khó khăn, rào cản không chỉ nằm ở nguồn vốn đầu tư phần mềm, thiết bị mà còn ở nhân lực có kỹ năng số, chuyên gia tư vấn, khả năng lựa chọn giải pháp phù hợp, tích hợp dữ liệu và bảo đảm an toàn thông tin.

Từ thực tế đó, đại biểu đề nghị, đối với các giải pháp số được ngân sách nhà nước hỗ trợ, hợp đồng cần quy định rõ trách nhiệm bàn giao dữ liệu, tài liệu vận hành và đào tạo người tiếp nhận tại doanh nghiệp. Đồng thời, phải công khai chi phí duy trì sau hỗ trợ và điều kiện chuyển dữ liệu sang nhà cung cấp khác.

Đại biểu cũng lưu ý, việc nghiệm thu không nên chỉ dừng ở kiểm tra cài đặt, bàn giao phần mềm hoặc thiết bị mà cần đánh giá khả năng doanh nghiệp tự sử dụng giải pháp trong công việc thực tế. Cách tiếp cận này sẽ giúp doanh nghiệp duy trì chuyển đổi số sau khi kết thúc hỗ trợ, hạn chế phát sinh chi phí vượt quá khả năng chi trả và giảm sự phụ thuộc vào nhà cung cấp.

Bên cạnh chuyển đổi số, đối với doanh nghiệp sản xuất, chế biến nông sản, dự thảo đã đề cập chính sách hỗ trợ thử nghiệm, kiểm định và chứng nhận chất lượng. Tuy nhiên, theo đại biểu, để doanh nghiệp vùng xa thực sự tiếp cận được các dịch vụ này, cần tính đến những chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện.

Cụ thể, đại biểu đề nghị nghiên cứu bổ sung các khoản chi cần thiết như lấy mẫu, vận chuyển, bảo quản mẫu và chi phí chuyên gia đến cơ sở. Việc tổ chức dịch vụ theo đợt hoặc theo khu vực có thể giúp giảm chi phí, nhưng vẫn phải bảo đảm hồ sơ và kết quả riêng cho từng doanh nghiệp.

Đồng thời, chính sách cần tính đến hoạt động đánh giá, giám sát định kỳ cần thiết để doanh nghiệp duy trì tiêu chuẩn chất lượng và đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường.

Để bảo đảm hiệu quả sử dụng ngân sách, đại biểu đề nghị quy định rõ định mức, mức trần chi phí và tiêu chí nghiệm thu; việc đánh giá phải dựa trên kết quả thực chất, tránh đầu tư dàn trải, hỗ trợ trùng lặp hoặc tạo ra sự phụ thuộc vào một nhà cung cấp dịch vụ.

Linh hoạt vốn đối ứng, bảo đảm tiến độ thanh toán

Theo đại biểu Nguyễn Cao Sơn, một chính sách hỗ trợ dù có mức hỗ trợ phù hợp nhưng quy trình thực hiện không sát với khả năng tài chính của doanh nghiệp thì vẫn có thể khó phát huy hiệu quả.

1k63d6gso_48dgb4.jpeg
Toàn cảnh phiên thảo luận. Ảnh: Phạm Thắng

Thực tế, doanh nghiệp có phương án sản xuất, kinh doanh tốt chưa chắc đã đủ dòng tiền để ứng trước toàn bộ chi phí rồi chờ hoàn trả phần kinh phí hỗ trợ. Đối với doanh nghiệp nhỏ, nguồn vốn còn phải dành cho nguyên liệu, tiền lương và duy trì hoạt động thường xuyên. Yêu cầu ứng trước một khoản kinh phí lớn có thể trở thành rào cản khiến doanh nghiệp khó tham gia các chương trình hỗ trợ.

Vì vậy, đại biểu đề nghị hoàn thiện cơ chế thực hiện hỗ trợ tại Điều 6 và quy định về trách nhiệm đối ứng tại Điều 29 theo hướng cho phép bố trí phần vốn đối ứng theo tiến độ phù hợp với từng nhiệm vụ.

Đối với những phần việc do doanh nghiệp trực tiếp thực hiện, cần nghiên cứu chấp nhận vật tư hoặc công lao động trực tiếp làm phần đối ứng trong trường hợp phù hợp, với điều kiện được phê duyệt trước, có căn cứ xác định giá trị và được kiểm chứng khi nghiệm thu.

Cùng với đó, cần xác định rõ nguồn kinh phí trong dự toán được giao, đơn vị chịu trách nhiệm thanh toán và tiến độ giải ngân. Đối với các hợp đồng dịch vụ kéo dài, đại biểu đề nghị nghiên cứu cơ chế tạm ứng có kiểm soát, thanh toán theo sản phẩm của từng giai đoạn và thanh toán trực tiếp cho nhà cung cấp khi phù hợp với hình thức hỗ trợ, hợp đồng và quy định pháp luật có liên quan.

Theo đại biểu Nguyễn Cao Sơn, việc thiết kế cơ chế vốn đối ứng và thanh toán linh hoạt sẽ giúp doanh nghiệp giảm áp lực huy động vốn, cải thiện dòng tiền và có điều kiện tham gia các chương trình hỗ trợ. Tuy nhiên, cơ chế này phải đi đôi với yêu cầu công khai, minh bạch, kiểm soát chặt chẽ ngân sách và xác định rõ trách nhiệm của các bên.

Trần Tâm