Rõ tiêu chí xác định doanh nghiệp được hưởng chính sách
Thảo luận tại Hội trường chiều 29/10 về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, ĐBQH Trần Đức Thuận (Nghệ An) đề nghị làm rõ tiêu chí xác định doanh nghiệp được hưởng chính sách theo hướng gắn với hoạt động sản xuất, kinh doanh thực tế, việc làm và giá trị tạo ra tại địa bàn; tránh trường hợp chỉ đăng ký trụ sở để hưởng ưu đãi.
Cần công khai tiêu chí, thời hạn xét duyệt, kết quả
Đánh giá cao việc dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa đã quan tâm đến chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, tham gia chuỗi giá trị và phát triển doanh nghiệp tại miền núi, biên giới, hải đảo, ĐBQH Trần Đức Thuận cho rằng, để các chính sách thực sự đi vào cuộc sống, cần tiếp tục hoàn thiện nguyên tắc lựa chọn doanh nghiệp được hỗ trợ, bảo đảm công bằng và đúng mục tiêu chính sách.

Góp ý khoản 5 Điều 5, đại biểu cho biết, dự thảo quy định doanh nghiệp nộp hồ sơ trước được hỗ trợ trước; việc ưu tiên một số nhóm doanh nghiệp chỉ đặt ra khi cùng nộp hồ sơ tại một thời điểm.
Theo đại biểu, quy định này thuận tiện cho việc tiếp nhận hồ sơ nhưng chưa phản ánh đầy đủ yêu cầu hỗ trợ có trọng tâm. Doanh nghiệp có bộ máy chuyên trách, ở gần cơ quan hỗ trợ thường có điều kiện tiếp cận thông tin và hoàn thiện hồ sơ nhanh hơn. Trong khi đó, doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp ở miền núi, biên giới, hải đảo có thể cần hỗ trợ hơn nhưng lại nộp hồ sơ chậm hơn.
Vì vậy, ĐBQH Trần Đức Thuận đề nghị thứ tự lựa chọn doanh nghiệp được hỗ trợ trước hết phải căn cứ vào mục tiêu chương trình, mức độ đáp ứng tiêu chí, nhu cầu và hiệu quả dự kiến; thời điểm nộp hồ sơ chỉ là tiêu chí giải quyết khi các điều kiện khác tương đương.

Đồng thời, cần công khai tiêu chí, thời hạn xét duyệt, kết quả và lý do không được hỗ trợ. Theo đại biểu, cách làm này vừa hạn chế cơ chế xin - cho, vừa giúp doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh.
Đối với chính sách phát triển doanh nghiệp tại miền núi, biên giới, hải đảo, đại biểu tán thành các nội dung hỗ trợ tại Điều 17 dự thảo Luật, song đề nghị thiết kế chính sách sát hơn với điều kiện hoạt động và khả năng hấp thụ hỗ trợ của doanh nghiệp.
Theo đại biểu, tại địa bàn miền núi, cần quan tâm chuỗi liên kết từ vùng nguyên liệu đến chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm. Nếu chỉ hỗ trợ phần mềm, đào tạo hoặc quảng bá mà thiếu kết nối vận chuyển, thị trường và doanh nghiệp đầu chuỗi thì hiệu quả chính sách sẽ hạn chế.
Đại biểu đề nghị làm rõ tiêu chí xác định doanh nghiệp được hưởng chính sách theo hướng gắn với hoạt động sản xuất, kinh doanh thực tế, việc làm và giá trị tạo ra tại địa bàn; tránh trường hợp chỉ đăng ký trụ sở để hưởng ưu đãi.
Cùng với đó, cần có cơ chế bố trí nguồn lực phù hợp cho các địa phương khó khăn; mức đối ứng của doanh nghiệp phải phù hợp với quy mô và khả năng tài chính. Những địa bàn khó khăn nhất cần được hỗ trợ đủ nguồn lực để triển khai chính sách.
Phát triển doanh nghiệp tại miền núi, biên giới, hải đảo còn góp phần tạo sinh kế, giữ chân lao động, ổn định dân cư, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân... Đây là những hiệu quả cần được tính đến khi lựa chọn và đánh giá các chương trình hỗ trợ.
ĐBQH Trần Đức Thuận (Nghệ An)
Không để gián đoạn hỗ trợ vốn khi tổ chức lại các quỹ
Liên quan đến cơ chế hỗ trợ vốn, ĐBQH Trần Đức Thuận đánh giá tích cực quy định tại Điều 8 dự thảo Luật về mở rộng hướng tiếp cận vốn dựa trên phương án kinh doanh, dòng tiền, dữ liệu giao dịch và đa dạng hóa tài sản bảo đảm.

Tuy nhiên, khoản 2 Điều 35 dự thảo Luật quy định việc rà soát, sáp nhập hoặc giải thể Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và các quỹ bảo lãnh tín dụng tại địa phương. Đại biểu đề nghị làm rõ nguyên tắc xử lý chuyển tiếp, nhất là đối với các hợp đồng cho vay, cam kết bảo lãnh và hồ sơ đang được giải quyết.
Theo đại biểu, dự thảo cần xác định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức kế thừa đối với tài sản, nghĩa vụ và các cam kết hợp pháp; bảo đảm quyền lợi của doanh nghiệp, tránh gián đoạn hỗ trợ trong quá trình sắp xếp.
Đồng thời, cần làm rõ cơ chế bảo lãnh hoặc chia sẻ rủi ro sau khi tổ chức lại các quỹ, để doanh nghiệp có phương án khả thi nhưng thiếu tài sản bảo đảm vẫn có cơ hội tiếp cận vốn, đi đôi với kiểm soát rủi ro và bảo toàn nguồn lực nhà nước.