Hoàn thiện cơ chế thử nghiệm, bảo đảm an toàn thị trường chứng khoán
Góp ý về quy định thử nghiệm có kiểm soát trong Luật Chứng khoán, ĐBQH Nguyễn Phương Thủy (TP. Hà Nội) cơ bản đồng tình với sự cần thiết bổ sung cơ chế này nhằm tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo trong bối cảnh công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và các mô hình kinh doanh mới phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên, do liên quan trực tiếp đến tài sản, quyền lợi của nhà đầu tư và sự an toàn của thị trường, đại biểu đề nghị cơ chế thử nghiệm cần được thiết kế chặt chẽ, bảo đảm hài hòa giữa thúc đẩy đổi mới sáng tạo, quản lý thị trường và bảo vệ nhà đầu tư.
Xác định rõ thẩm quyền, căn cứ và trình tự áp dụng cơ chế đặc thù
Phát biểu thảo luận tại hội trường, ĐBQH Nguyễn Phương Thủy nhấn mạnh, trước hết, phải bảo đảm tính thống nhất giữa Luật Chứng khoán với pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, pháp luật về công nghiệp công nghệ số. Điều 6a dự kiến bổ sung vào Luật Chứng khoán đã dẫn chiếu việc thực hiện theo các luật có liên quan. Vì vậy, các quy định cụ thể cần bảo đảm tính thống nhất, tránh hình thành cơ chế riêng nhưng chưa rõ căn cứ pháp lý.
.jpg)
Qua rà soát dự thảo Nghị định kèm theo hồ sơ dự án Luật, ĐBQH Nguyễn Phương Thủy đề nghị cơ quan soạn thảo đặc biệt làm rõ sự khác biệt về thời hạn thử nghiệm. Cụ thể, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quy định thời hạn thử nghiệm có kiểm soát tối đa là 3 năm và có thể được gia hạn một lần, không quá 3 năm. Trong khi đó, dự thảo Nghị định về thử nghiệm trong lĩnh vực chứng khoán quy định thời hạn tối đa là 5 năm, đồng thời thiết kế cơ chế gia hạn theo hướng có thể gia hạn nhiều lần.
Theo đại biểu, sự khác biệt này cần được giải trình rõ cả về căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn. Nếu đặc thù của thị trường chứng khoán đòi hỏi thời gian thử nghiệm dài hơn, cơ quan soạn thảo cần xác định rõ thẩm quyền, căn cứ và trình tự áp dụng cơ chế đặc thù, thay vì chỉ quy định khác đi tại văn bản dưới luật.

Đại biểu cho rằng đây không đơn thuần là vấn đề thời hạn dài hay ngắn. Thời gian thử nghiệm càng dài thì mức độ phơi nhiễm với rủi ro của nhà đầu tư và thị trường càng có thể tăng lên. Ngược lại, thời gian quá ngắn cũng có thể khiến việc đánh giá một mô hình công nghệ phức tạp không đủ độ tin cậy. Vì vậy, thời hạn thử nghiệm cần gắn với mức độ rủi ro, phạm vi thử nghiệm, tiêu chí đánh giá và các điều kiện gia hạn cụ thể.
Từ đó, ĐBQH Nguyễn Phương Thủy đề nghị rà soát toàn bộ dự thảo trên nguyên tắc: Nghị định phải cụ thể hóa luật, không mặc nhiên tạo ra ngoại lệ đối với luật. Trường hợp pháp luật cho phép thiết lập cơ chế đặc thù thì phải xác định rõ căn cứ và giới hạn của ngoại lệ đó.
Làm rõ thẩm quyền cho phép thử nghiệm những nội dung chưa được pháp luật quy định
Bên cạnh đó, ĐBQH Nguyễn Phương Thủy cho rằng phải làm rõ thẩm quyền cho phép thử nghiệm những nội dung chưa được pháp luật quy định hoặc khác với quy định pháp luật hiện hành. Theo đại biểu, đây mới là vấn đề cốt lõi của cơ chế thử nghiệm có kiểm soát. Điểm đặc thù của cơ chế này không chỉ là cho phép doanh nghiệp thử nghiệm công nghệ mới, mà còn ở khả năng thử nghiệm những giải pháp, sản phẩm, dịch vụ hoặc mô hình kinh doanh chưa có quy định pháp luật điều chỉnh, hoặc có nội dung khác với quy định hiện hành. Việc thử nghiệm được thực hiện trong điều kiện thực tế, với những giới hạn cụ thể về phạm vi, không gian, thời gian và các điều kiện kiểm soát.
.jpg)
Khoản 6 Điều 21 của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã dự liệu cơ chế để Chính phủ quy định những nội dung cần thiết nhằm xử lý các vấn đề phát sinh khác với một số văn bản luật, đồng thời đặt ra yêu cầu báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội. Tuy nhiên, Điều 6a và dự thảo Nghị định chưa làm rõ đầy đủ cơ chế này trong lĩnh vực chứng khoán.
Vì vậy, ĐBQH Nguyễn Phương Thủy đề nghị hoàn thiện Điều 6a và dự thảo Nghị định theo hướng xác định rõ phạm vi được phép thử nghiệm khác quy định hiện hành, thẩm quyền và trình tự quyết định; đồng thời làm rõ việc thực hiện cơ chế theo khoản 6 Điều 21 nêu trên. Theo đại biểu, không nên chỉ quy định thủ tục cấp phép mà bỏ ngỏ vấn đề pháp lý quan trọng nhất của thử nghiệm có kiểm soát.
Cần phân biệt rõ thẩm quyền cấp phép tham gia thử nghiệm với thẩm quyền cho phép áp dụng khác quy định pháp luật. Chẳng hạn, nếu doanh nghiệp đề xuất sử dụng trí tuệ nhân tạo để thực hiện một hoạt động đầu tư chứng khoán mà pháp luật hiện hành chưa quy định hoặc chưa cho phép theo cách thức đó, thì cơ quan nào có quyền chấp thuận? Nội dung nào được phép thử nghiệm khác đi, nội dung nào vẫn phải tuân thủ đầy đủ? Căn cứ và giới hạn của quyết định đó là gì?
Nếu chỉ cấp phép thử nghiệm mà không giải quyết được vướng mắc pháp lý đối với hoạt động được thử nghiệm, cơ chế có thể không đạt mục tiêu. Ngược lại, nếu cho phép áp dụng khác quy định pháp luật mà không xác định rõ căn cứ và thẩm quyền, sẽ phát sinh rủi ro về tính hợp pháp và trách nhiệm của cơ quan cấp phép.
ĐBQH Nguyễn Phương Thủy (Hà Nội)
Liên quan đến quy định về miễn, loại trừ trách nhiệm phải chặt chẽ, có điều kiện và không tạo ra những ngoại lệ thiếu nhất quán trong hệ thống pháp luật, ĐBQH Nguyễn Phương Thủy cho biết, vấn đề này liên quan trực tiếp đến ý kiến đại biểu đã nêu khi góp ý dự thảo Bộ luật Hình sự về xu hướng bổ sung quy định miễn, loại trừ trách nhiệm vào nhiều luật, nghị quyết khác nhau. Nếu mỗi lĩnh vực đều thiết kế một ngoại lệ riêng mà không có nguyên tắc thống nhất, việc áp dụng pháp luật sẽ khó bảo đảm rõ ràng và nhất quán.
Đại biểu cho rằng thử nghiệm công nghệ mới luôn tiềm ẩn rủi ro và cần có cơ chế bảo vệ phù hợp cho cả cơ quan thực thi công vụ lẫn tổ chức tham gia thử nghiệm. Tuy nhiên, cần phân biệt giữa rủi ro phát sinh dù chủ thể đã tuân thủ đầy đủ điều kiện, thực hiện đúng nghĩa vụ phòng ngừa và báo cáo, với thiệt hại xảy ra do vi phạm, che giấu rủi ro hoặc không thực hiện các biện pháp cần thiết để hạn chế thiệt hại.
Ví dụ, hệ thống trí tuệ nhân tạo đưa ra khuyến nghị đầu tư sai, gây thiệt hại cho khách hàng. Nếu doanh nghiệp đã tuân thủ đầy đủ điều kiện thử nghiệm, cảnh báo rủi ro và thực hiện các biện pháp kiểm soát theo yêu cầu, trách nhiệm cần được xem xét trên cơ sở các quy định pháp luật có liên quan. Nhưng nếu doanh nghiệp biết hệ thống có lỗi nghiêm trọng mà vẫn tiếp tục sử dụng thì không thể chỉ vì đang tham gia thử nghiệm mà được miễn trách nhiệm.
Đặc biệt, cần phân biệt việc miễn, loại trừ trách nhiệm hành chính, dân sự và hình sự. Việc miễn một loại trách nhiệm không đồng nghĩa với đương nhiên được miễn các loại trách nhiệm khác; quy định chuyên ngành cũng không nên được hiểu là tạo ra căn cứ loại trừ trách nhiệm hình sự ngoài khuôn khổ Bộ luật Hình sự. Đồng thời, cơ chế này không được làm mất quyền yêu cầu bồi thường hợp pháp của nhà đầu tư và người bị thiệt hại.

Từ những phân tích trên, ĐBQH Nguyễn Phương Thủy đề nghị quy định rõ đối tượng, điều kiện và giới hạn áp dụng việc miễn, loại trừ trách nhiệm; gắn với yêu cầu tuân thủ đầy đủ quy định, chủ động nhận diện và xử lý rủi ro, kịp thời báo cáo và khắc phục hậu quả. Về lâu dài, cần có cách tiếp cận thống nhất đối với các quy định miễn, loại trừ trách nhiệm trong hệ thống pháp luật, tránh để các luật chuyên ngành tự hình thành những ngoại lệ khác nhau.
Theo đại biểu, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi vừa tạo không gian cho đổi mới sáng tạo, vừa xác định rõ giới hạn pháp lý, thẩm quyền quyết định và trách nhiệm của các chủ thể.