Chăm lo nhà ở cho lực lượng vũ trang, củng cố nền tảng bảo vệ Tổ quốc
Hoàn thiện chính sách nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân không chỉ đáp ứng nhu cầu an cư của cán bộ, chiến sĩ mà còn góp phần xây dựng lực lượng vững mạnh, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc. Trong quá trình xem xét dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi), cần chú trọng đặc thù nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; ưu tiên cán bộ, chiến sĩ công tác tại biên giới, hải đảo, địa bàn đặc biệt khó khăn, đồng thời bảo đảm chỗ ở tại nơi thực hiện nhiệm vụ và hỗ trợ tạo lập nhà ở ổn định cho gia đình.
Chăm lo nhà ở là đầu tư cho con người
Bảo đảm quyền có chỗ ở của người dân là một nội dung quan trọng của chính sách an sinh xã hội. Nhà ở không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu mà còn là điều kiện để mỗi người ổn định cuộc sống, xây dựng gia đình, chăm sóc con cái và đóng góp lâu dài cho xã hội.
Đối với lực lượng vũ trang nhân dân, vấn đề nhà ở mang những đặc điểm riêng, xuất phát từ tính chất đặc thù của nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Cán bộ, chiến sĩ QĐND và CAND trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Hoạt động của lực lượng vũ trang có tính tổ chức, kỷ luật cao, chịu sự điều động, phân công của tổ chức và phải sẵn sàng nhận nhiệm vụ tại bất kỳ địa bàn nào khi Tổ quốc và Nhân dân yêu cầu.

Một sĩ quan quân đội có thể công tác nhiều năm tại vùng biên giới xa xôi; một quân nhân chuyên nghiệp làm nhiệm vụ trên đảo; một cán bộ công an được điều động đến địa bàn trọng điểm về an ninh, trật tự. Nhiều cán bộ, chiến sĩ thường xuyên tham gia phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, đấu tranh phòng, chống tội phạm. Với đặc thù nhiệm vụ ấy, họ thường không có điều kiện chủ động lựa chọn nơi công tác, thời gian làm việc và nơi cư trú.
Đằng sau mỗi người đang thực hiện nhiệm vụ là một gia đình với những nhu cầu thiết thực về chỗ ở, chăm sóc cha mẹ, nuôi dạy con cái và ổn định cuộc sống. Thực tế, nhiều cán bộ, chiến sĩ phải xa gia đình trong thời gian dài; vợ hoặc chồng một mình chăm sóc con nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già. Không ít gia đình phải thuê nhà, chuyển nơi ở nhiều lần hoặc chưa có điều kiện tạo lập nhà ở ổn định.
Đối với cán bộ, chiến sĩ trẻ, mới lập gia đình, thu nhập chủ yếu từ tiền lương, việc tích lũy để mua nhà tại các đô thị lớn hoặc địa bàn có giá bất động sản cao là thách thức không nhỏ. Những khó khăn này nếu không được quan tâm giải quyết thỏa đáng sẽ ảnh hưởng đến đời sống vật chất, tinh thần và khả năng gắn bó lâu dài với lực lượng.
Vì vậy, chăm lo nhà ở cho lực lượng vũ trang không đơn thuần là giải quyết nhu cầu dân sinh mà còn là đầu tư cho chất lượng nguồn nhân lực, góp phần xây dựng QĐND, CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
Chính sách phải phù hợp với đặc thù nhiệm vụ
Dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi) xác định nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân là một loại nhà ở chính sách, đồng thời dành các quy định riêng về đối tượng, điều kiện được hỗ trợ, hình thức phát triển, quỹ đất, ưu đãi đầu tư, giá bán, giá thuê mua, giá thuê và việc quản lý, sử dụng.
Dự thảo cũng quy định các hình thức hỗ trợ như bán, cho thuê mua, cho thuê nhà ở và hỗ trợ vay vốn ưu đãi thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội. Đây là hướng tiếp cận phù hợp, tạo cơ sở pháp lý để phát triển nhà ở cho lực lượng vũ trang theo hướng có tổ chức, có quy hoạch và có cơ chế huy động nguồn lực.

Tuy nhiên, từ yêu cầu thực tiễn, chính sách cần tiếp tục được nghiên cứu theo hướng toàn diện hơn, phù hợp với điều kiện công tác của từng nhóm đối tượng. Nếu chỉ tập trung tạo điều kiện mua hoặc thuê mua nhà ở tại các đô thị, khu vực tập trung đông quân nhân, cán bộ công an, chính sách sẽ khó giải quyết đầy đủ nhu cầu của những người đang công tác tại vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và địa bàn đặc biệt khó khăn.
Đối với lực lượng này, nhu cầu trước mắt nhiều khi không phải sở hữu một căn hộ mà là có chỗ ở an toàn, ổn định, bảo đảm điều kiện sinh hoạt trong thời gian thực hiện nhiệm vụ; đồng thời có cơ hội tạo lập nhà ở lâu dài cho gia đình. Do đó, chính sách cần đáp ứng hai yêu cầu song hành: bảo đảm chỗ ở tại nơi thực hiện nhiệm vụ và hỗ trợ tạo lập nhà ở ổn định cho gia đình. Đây là hai nhu cầu khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết, không nên đồng nhất hoặc giải quyết bằng một cơ chế duy nhất.
Đặc biệt, cần bảo đảm công bằng thực chất giữa các nhóm đối tượng có điều kiện công tác khác nhau. Công bằng không có nghĩa là áp dụng chính sách giống nhau cho tất cả mà phải tính đến tính chất nhiệm vụ, điều kiện sinh hoạt và mức độ khó khăn của từng nhóm cán bộ, chiến sĩ.
Đối với những người làm nhiệm vụ tại biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, cần có chính sách ưu tiên cao hơn... Đây là những địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh nhưng điều kiện giao thông, hạ tầng, dịch vụ y tế, giáo dục và thị trường nhà ở còn nhiều hạn chế. Nhiều đơn vị đóng quân xa trung tâm dân cư, việc đi lại khó khăn, chi phí sinh hoạt lớn. Trong khi đó, mô hình phát triển nhà ở theo dự án tập trung, dựa chủ yếu vào nguồn vốn doanh nghiệp, có thể khó triển khai do hiệu quả thương mại thấp.
Vì vậy, cần có cơ chế để Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư xây dựng nhà ở công vụ, chỗ ở phục vụ nhiệm vụ và các công trình lưu trú thiết yếu tại những địa bàn này. Đối với cán bộ, chiến sĩ công tác lâu dài ở khu vực đặc biệt khó khăn, có thể nghiên cứu hỗ trợ tiền thuê nhà, hỗ trợ cải thiện chỗ ở, miễn hoặc giảm tiền thuê nhà ở công vụ phù hợp với điều kiện cụ thể.
.jpg)
Cùng với đó, cần nghiên cứu cơ chế ưu tiên đối với cán bộ, chiến sĩ có thời gian công tác dài tại địa bàn đặc biệt khó khăn; trực tiếp thực hiện nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ biên giới, biển đảo, đấu tranh phòng, chống tội phạm nguy hiểm và các nhiệm vụ có tính chất đặc biệt. Tiêu chí ưu tiên phải rõ ràng, công khai, minh bạch, phản ánh đúng mức độ cống hiến và hoàn cảnh thực tế, tránh bình quân, dàn trải.
Đối với lực lượng làm nhiệm vụ đặc biệt, thường xuyên cơ động hoặc duy trì chế độ trực, sẵn sàng chiến đấu, chính sách nhà ở còn phải gắn với yêu cầu bảo đảm khả năng cơ động, phản ứng nhanh và triển khai nhiệm vụ. Tại một số địa bàn, việc bố trí nhà ở gần đơn vị, gần khu vực thực hiện nhiệm vụ là cần thiết để bảo đảm quân số, thời gian triển khai lực lượng và khả năng xử lý tình huống. Vì vậy, cần nghiên cứu phát triển hệ thống nhà ở công vụ, nhà lưu trú phù hợp với tổ chức biên chế, yêu cầu bảo mật, an ninh, an toàn và điều kiện sinh hoạt.

Việc quy hoạch khu nhà ở cho lực lượng vũ trang phải bảo đảm yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh; không ảnh hưởng đến khả năng triển khai nhiệm vụ và thế trận quốc phòng, an ninh trên địa bàn. Đồng thời, cần phân định rõ đất sử dụng cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với đất được phép sử dụng để phát triển nhà ở, bảo đảm quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích, không làm suy giảm nguồn lực phục vụ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Bảo đảm chỗ ở khi làm nhiệm vụ, chăm lo mái ấm gia đình
Một vấn đề cần được quan tâm đầy đủ khi hoàn thiện chính sách là nhu cầu nhà ở của gia đình cán bộ, chiến sĩ.
Thực tế, có những cán bộ, chiến sĩ công tác tại một địa phương nhưng vợ hoặc chồng, con cái sinh sống ở địa phương khác. Có người nhiều năm làm nhiệm vụ tại biên giới, hải đảo trong khi gia đình phải thuê nhà ở thành phố để thuận lợi cho việc học tập của con cái và công việc của vợ hoặc chồng. Cũng có trường hợp cán bộ, chiến sĩ được bố trí chỗ ở tập thể tại đơn vị nhưng gia đình vẫn chưa có nhà ở ổn định. Nếu chỉ căn cứ vào việc cá nhân đã được bố trí chỗ ở tại nơi công tác để đánh giá nhu cầu nhà ở thì có thể chưa phản ánh đầy đủ hoàn cảnh thực tế.

Vì vậy, cần phân biệt rõ chỗ ở phục vụ nhiệm vụ với nhà ở ổn định của hộ gia đình. Việc được bố trí nơi ở trong doanh trại, nhà lưu trú hoặc nhà ở công vụ trong thời gian công tác không nên mặc nhiên được coi là đã giải quyết nhu cầu nhà ở lâu dài của gia đình. Đồng thời, phải có cơ chế kiểm soát để tránh hưởng trùng lặp các chính sách hỗ trợ có cùng mục đích.
Đối với cán bộ, chiến sĩ có vợ hoặc chồng, con nhỏ sinh sống xa nơi công tác, cần nghiên cứu cơ chế cho phép lựa chọn địa điểm mua, thuê mua nhà ở chính sách phù hợp với nhu cầu ổn định cuộc sống của gia đình, không nhất thiết phải gắn với nơi đang đóng quân hoặc công tác. Chính sách này đặc biệt có ý nghĩa đối với những người thường xuyên luân chuyển địa bàn, công tác ở nơi chưa có điều kiện phát triển thị trường nhà ở hoặc không có nhu cầu định cư lâu dài.
Bên cạnh đó, cần quan tâm đến hoàn cảnh cụ thể của gia đình cán bộ, chiến sĩ, nhất là những trường hợp có con nhỏ, cha mẹ già cần chăm sóc, người thân mắc bệnh hiểm nghèo, gia đình có người khuyết tật hoặc đang gặp khó khăn về nhà ở.
Một chính sách nhà ở nhân văn phải nhìn nhận cán bộ, chiến sĩ không chỉ với tư cách người thực hiện nhiệm vụ mà còn là thành viên của gia đình, có những trách nhiệm và nhu cầu chính đáng. Khi hậu phương được chăm lo, cán bộ, chiến sĩ sẽ có thêm điều kiện tập trung thực hiện nhiệm vụ, yên tâm gắn bó với đơn vị.
Bảo đảm nguồn lực, hỗ trợ đúng đối tượng
Để chính sách nhà ở cho lực lượng vũ trang thực sự đi vào cuộc sống, các quy định cần được hoàn thiện theo hướng thiết thực, khả thi, có trọng tâm và thể hiện rõ tính đặc thù. Chính sách phải vừa bảo đảm quyền tiếp cận nhà ở của cán bộ, chiến sĩ, vừa đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.
Trước hết, cần đa dạng hóa hình thức hỗ trợ, phù hợp với từng nhóm đối tượng. Bên cạnh nhà ở để bán, cho thuê mua, cần ưu tiên phát triển nhà ở cho thuê, nhà ở công vụ, nhà lưu trú tại các địa bàn khó khăn; đồng thời nghiên cứu hỗ trợ tín dụng dài hạn, lãi suất ưu đãi cho cán bộ, chiến sĩ có nhu cầu tạo lập nhà ở lâu dài. Đặc biệt, phải tính đến khả năng tiếp cận thực tế, tránh tình trạng chính sách đã có nhưng người thực sự cần hỗ trợ vẫn không thể mua hoặc thuê mua nhà ở do giá quá cao, điều kiện vay vốn chưa phù hợp.

Trên cơ sở tính chất nhiệm vụ và điều kiện công tác, cần xác định rõ thứ tự ưu tiên giữa các nhóm đối tượng. Cùng với cán bộ, chiến sĩ trực tiếp làm nhiệm vụ tại biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, địa bàn đặc biệt khó khăn và những người thực hiện nhiệm vụ đặc biệt nguy hiểm, cần chú trọng những người thường xuyên xa gia đình, cán bộ, chiến sĩ trẻ chưa có nhà ở và các trường hợp có hoàn cảnh gia đình khó khăn.
Một yêu cầu quan trọng khác là bảo đảm nguồn lực và trách nhiệm tổ chức thực hiện. Không thể chỉ trông chờ vào doanh nghiệp hoặc cơ chế thị trường để giải quyết nhu cầu nhà ở cho lực lượng vũ trang, nhất là tại những địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Cần xác định rõ trách nhiệm của Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và chính quyền địa phương trong khảo sát nhu cầu, quy hoạch quỹ đất, bố trí nguồn lực, phát triển và quản lý quỹ nhà ở. Đối với địa bàn đặc biệt khó khăn, cần nghiên cứu cơ chế đầu tư từ ngân sách nhà nước phù hợp với khả năng cân đối và yêu cầu nhiệm vụ.
Song song với việc huy động nguồn lực, phải bảo đảm chính sách được thực hiện công khai, minh bạch, đúng đối tượng, không để xảy ra tiêu cực, trục lợi. Việc xét duyệt đối tượng được hỗ trợ về nhà ở cần dựa trên các tiêu chí cụ thể về nhu cầu thực tế, điều kiện nhà ở, thu nhập, thời gian công tác, tính chất nhiệm vụ và hoàn cảnh gia đình, phù hợp với từng hình thức hỗ trợ. Công tác giám sát việc quản lý, sử dụng quỹ đất, nguồn vốn và phân phối nhà ở chính sách cũng cần được tăng cường, bảo đảm nguồn lực của Nhà nước đến đúng những người thực sự cần hỗ trợ.
Chăm lo nhà ở cho lực lượng vũ trang chính là chăm lo con người, nhân tố quyết định trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng QĐND, CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại không chỉ là đầu tư trang bị, phương tiện, cơ sở vật chất mà trước hết phải chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ vững vàng về chính trị, tư tưởng, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và điều kiện sống phù hợp.
Một người lính nơi biên cương, một cán bộ công an ở địa bàn trọng điểm hay một chiến sĩ làm nhiệm vụ trên đảo xa sẽ yên tâm hơn khi biết gia đình mình có chỗ ở ổn định, con cái có điều kiện học hành, người thân được chăm lo. Chính sách nhà ở phù hợp vừa góp phần cải thiện đời sống, vừa là nguồn động viên tinh thần có ý nghĩa lâu dài, tạo động lực thu hút, giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao, củng cố sự gắn bó của cán bộ, chiến sĩ với đơn vị và nhiệm vụ được giao.
Điều cần hướng tới khi hoàn thiện Luật Nhà ở không chỉ là xây dựng thêm bao nhiêu căn nhà, mà quan trọng hơn là những căn nhà ấy có đến được với cán bộ, chiến sĩ thực sự cần hay không; có đáp ứng đúng nhu cầu của người công tác tại vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và giúp họ yên tâm thực hiện nhiệm vụ hay không.
Để những người đang ngày đêm bảo vệ Tổ quốc yên tâm nơi tuyến đầu, cần có chính sách thiết thực chăm lo cho mái ấm của họ ở phía sau. Mỗi mái ấm được bảo đảm, mỗi gia đình cán bộ, chiến sĩ được ổn định cuộc sống cũng là góp thêm một nền tảng vững chắc cho thế trận lòng dân, cho sức mạnh quốc phòng, an ninh và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.