Diễn đàn Quốc hội

Bài cuối: Thể chế kiến tạo sức mạnh vật chất – tinh thần của quốc gia, dân tộc trong thời đại Kỷ nguyên mới

TS. Đặng Xuân Phương • 28/10/2026 06:03

Trong Kỷ nguyên mới, văn hóa không chỉ là hồn cốt thiêng liêng mà phải trở thành sức mạnh vật chất – tinh thần của quốc gia, dân tộc. Để giải phóng triệt để sức sáng tạo văn hóa, đóng góp vào việc đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế, dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa cần quán triệt tinh thần “Ba chuyển dịch lớn” để thiết lập những trụ cột thể chế, chính sách mới, mang tính kiến tạo phù hợp cho hệ sinh thái công nghiệp văn hóa.

em1.jpg

TS. Đặng Xuân Phương

Bài cuối:
Thể chế kiến tạo sức mạnh vật chất – tinh thần của quốc gia, dân tộc
trong thời đại Kỷ nguyên mới

Trong kỷ nguyên mới, văn hóa không chỉ là hồn cốt thiêng liêng mà phải trở thành sức mạnh vật chất – tinh thần của quốc gia, dân tộc. Để giải phóng triệt để sức sáng tạo văn hóa, đóng góp vào việc đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế, dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa cần quán triệt tinh thần “Ba chuyển dịch lớn” để thiết lập những trụ cột thể chế, chính sách mới, mang tính kiến tạo phù hợp cho hệ sinh thái công nghiệp văn hóa.

Thiết lập, quản lý vận hành, phát triển hạ tầng văn hóa số gắn với kiểm soát rủi ro trên không gian mạng

Nhằm tháo gỡ những bất cập, hạn chế của tình trạng đứt gãy, phân mảnh, cục bộ trong khai thác, sử dụng tài nguyên tri thức văn hóa, lịch sử, Nghị quyết 57-NQ/TW và Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra những chủ trương giải pháp đúng nhằm đẩy mạnh liên thông, tích hợp dữ liệu trong quá trình chuyển đổi số. Dự án Luật phát triển công nghiệp văn hóa hiện đang thể chế hóa các chủ trương này bằng việc quy định về hạ tầng văn hóa số.

Trong đó, xác định hạ tầng dữ liệu văn hóa là cấu phần cốt lõi của hạ tầng văn hóa, bao gồm: kho dữ liệu văn hóa số quốc gia, cơ sở dữ liệu về văn hóa, nền tảng số… Đồng thời, dự thảo cũng quy định nguyên tắc xây dựng, phát triển và vận hành hạ tầng văn hóa số phải bảo đảm kết nối liên thông, chia sẻ và khả năng tái sử dụng dữ liệu. Quy định như trên bảo đảm thống nhất chuẩn dữ liệu văn hóa, kết nối, tích hợp dữ liệu giữa các cơ sở công lập đang quản lý các kho tài nguyên tri thức văn hóa. Từ đó, dẫn đến yêu cầu các dữ liệu IP gốc sẽ buộc phải được định danh (identification) và gắn nhãn (tagging) theo chuẩn quốc tế và của Việt Nam. Đây cũng là khoảng trống pháp lý rõ rệt đối với các dữ liệu phát sinh từ việc số hóa các loại tài sản công cần khai thác trong các ngành công nghiệp văn hóa.

k1.jpg
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hoá và Xã hội Đặng Xuân Phương phát biểu tại buổi làm việc với Nhà xuất bản Khoa học và Xã hội về việc thực hiện chính sách, pháp luật về xuất bản

Mặc dù Chính phủ đã có quy định chung về khuyến khích đầu tư, phát triển hạ tầng văn hóa số theo phương thức PPP (Nghị định số 277/2026/NĐ-CP về hạ tầng văn hóa số) nhưng việc triển khai thực hiện được trên thực tế còn phụ thuộc vào cơ chế xác định giá dịch vụ khai thác hạ tầng văn hóa số cũng như các quy định cụ thể về quản lý, sử dụng tài sản công.

Trước hết, mọi dữ liệu liên quan đến IP gốc do Nhà nước đầu tư, quản lý (tài liệu dịch thuật tư liệu Hán nôm, tư liệu chữ viết, văn hoá dân tộc, dữ liệu số hóa 3D các bảo vật quốc gia, di tích lịch sử, mỹ thuật truyền thống ... ) phải được phân loại, phân tầng rõ ràng theo theo mục đích sử dụng (các mục tiêu phi lợi nhuận hoặc thu phí thương mại) nhằm khai thác có hiệu quả.

Trên thực tế, việc tạo ra các sản phẩm công nghiệp văn hóa mang giá trị, bản sắc truyền thống có chất lượng cao luôn gắn nhu cầu đẩy mạnh số hóa sâu, phục vụ phục dựng chi tiết các công trình, hiện vật liên quan đến di sản văn hóa (trang phục, vật dụng, kiến trúc, nghi lễ văn hóa lịch sử phù hợp với quy cách chuẩn. Trong điều kiện ngân sách nhà nước chưa đáp ứng được ở các ngành, các địa phương, hiện nay một số doanh nghiệp “kỳ lân” trong ngành giải trí như DatViet VAC cũng thấy được tiềm năng này và đề xuất thí điểm cơ chế hợp tác công tư gắn với việc thực hiện số hóa di sản, tài sản công trong lĩnh vực văn hóa.

Tuy nhiên, hiện nay việc áp dụng cơ chế định giá riêng đối với phần dữ liệu trong hạ tầng văn hoá số là tài sản công gần như không thể, do chứa đựng nhiều rủi ro, có tâm lý lo ngại thất thoát tài sản công, khó kiểm toán được hiệu quả khai thác dữ liệu. Do đó, cơ chế khai thác hạ tầng văn hóa số hình thành từ tài sản công phù hợp nhất, có lẽ là: (1) Khoán thu, theo đó đơn vị được giao quản lý, sử dụng tài sản công ký hợp đồng cho thuê quyền khai thác tài sản công là hạ tầng văn hóa số trên cơ sở đấu thầu công khai và thu tiền cố định từ dòng tiền trong tương lai (như từ các hoạt động bán vé, đồ lưu niệm, dịch vụ liên quan … ) của doanh nghiệp; (2) Chia sẻ doanh thu: đơn vị được giao quản lý, sử dụng tài sản công ký hợp đồng liên doanh, liên kết chia sẻ % doanh thu trên cơ sở đưa hạ tầng văn hóa số hiện đang quản lý vào hợp tác; nhà đầu tư PPP sẽ bỏ vốn đầu tư mới, cải tạo, nâng cấp, tổ chức mô hình kinh doanh...

Những quy định cụ thể về hạ tầng văn hóa số sẽ tạo thuận lợi và bảo đảm minh bạch hơn cho các đối tượng có nhu cầu khai khác, từ công chúng đến các nhà sáng tạo nội dung, nhà sản xuất… được tiếp cận với hạ tầng văn hóa số là tài sản công nhằm đáp ứng nhu cầu sáng tạo, sản xuất, phân phối, tái đầu tư sản phẩm công nghiệp văn hóa của họ. Trong đó, các điều kiện khai thác cần được xác lập phù hợp với từng loại đối tượng và mục đích khai thác.

suc-manh-mem-bia_0.jpg
Văn hóa là hệ điều tiết trong phát triển bền vững. Ảnh: VOV

Việc tích hợp kho dữ liệu văn hóa số đa dạng, phong phú cùng với việc áp dụng những tri thức khoa học liên ngành, đặc biệt với sự tham gia ngày càng sâu của AI, chắc chắn sẽ tạo ra vô số tài sản sở hữu trí tuệ là cốt truyện (IP story – tài sản cốt truyện) mới để phát triển các sản phẩm công nghiệp văn hóa. Nhiều tài sản cốt truyện trong số đó có thể chính là lời giải khoa học và chân thực, tạo nên ký ức dân tộc khiến chúng ta càng thêm tự hào, hơn cả những điều đã được ghi chép trong chính sử hay huyền sử. Bài thơ “Thần” mà không người Việt Nam nào không biết, tuy vẫn là một sản phẩm chiến tranh tâm lý nhưng quá trình tạo ra IP story rất có thể lại là minh chứng về mưu lược ông cha ta cho rải truyền đơn trong doanh trại quân giặc trước phòng tuyến Như Nguyệt năm 1077.

Tuy nhiên, pháp luật cũng cần dự liệu cả mặt trái của công nghiệp văn hóa trong khai thác, sử dụng hạ tầng văn hoá số. Không gian mạng phát triển dẫn đến bùng nổ sản phẩm số phục vụ giải trí và trao đổi tri thức. Khi mọi người đều có thể lên không gian mạng bàn luận, chúng ta chợt nhận ra nhiều nghi vấn lịch sử vốn là chủ đề sôi nổi, lại bị bóc trần một cách ngỡ ngàng.

Chẳng hạn, việc áp dụng kiến thức liên ngành của khoa học trái đất và môi trường liên quan đến các chu kỳ thay đổi mực nước biển trên quy mô toàn cầu cho thấy: giả định mực nước biển ở vùng Châu thổ sông Hồng thời kỳ bẩy, tám trăm năm trước, dâng cao hơn hiện nay vài mét và trong điều kiện chưa có hệ thống đê điều, sẽ dẫn đến mọi ý kiến tranh chấp về nơi phát tích của một triều đại, nơi hình thành một đô thị hay thương cảng trong hệ thống thương mại cổ xưa hoặc thậm chí một trận đánh nổi tiếng… trở nên vô nghĩa, bởi các công nghệ mô phỏng hiện đại có thể cho thấy kết quả sai lệch hoàn toàn so với những quan điểm phổ biến.

Tượng tự, một danh nhân vốn được chính sử trước đây ca ngợi và đi vào ký ức cộng đồng bản địa như người anh hùng cũng có nguy cơ trở thành nhân vật phản diện, không phù hợp với chuẩn mực giá trị con người Việt Nam nếu xuất hiện nguồn tư liệu đáng tin cậy chỉ ra quá khứ đen tối. Điều này hẳn sẽ làm đau đầu những ai đã viết ra hồ sơ di sản hay sách giáo khoa, hoặc làm tổn thương cả những cộng đồng, dòng họ danh tiếng.

Mâu thuẫn trên phương diện tư tưởng giữa kiến giải khoa học và đạo đức, do đó cần được giải quyết bằng các quy định của Luật phát triển công nghiệp văn hóa nhằm phân loại các mức độ rủi ro liên quan đến IP story: từ hư cấu hợp lý, diễn giải mới (có thể gây tranh luận), nguy cơ sai lệch (cần điều chỉnh khi sản xuất) cho đến bị nghiêm cấm (xuyên tạc lịch sử, xâm phạm danh dự, nhân phẩm …). Việc khai thác hạ tầng văn hoá số dẫn đến đòi hỏi pháp luật phải quy định những trường hợp hồ sơ tài sản sáng tạo văn hóa cần thẩm định nội dung hoặc tham vấn ý kiến của từng chuyên gia thuộc các chuyên ngành liên quan nào trong quá trình đầu tư cho sáng tạo, cũng như trước khi đưa sản phẩm ra thị trường, góp phần phòng ngừa, ngăn chặn tác hại đến lĩnh vực văn hóa, tư tưởng từ nguy cơ tranh luận hỗn loạn trên không gian mạng.

anh-1-17661314071861585245046.jpg
Di sản văn hóa đang được Hà Nội khai thác như một nguồn lực mềm quan trọng, góp phần tạo chiều sâu bản sắc và động lực phát triển bền vững cho Thủ đô. Ảnh: VGP

Thiết lập khung pháp lý cho phép nâng cao khả năng tiếp cận vốn phù hợp với công nghiệp văn hóa

Trong điều kiện pháp luật dân sự nước ta hiện chỉ quy định về quyền sở hữu trí tuệ (thuộc nhóm quyền tài sản), việc luật hóa quy định về tài sản sáng tạo văn hóa đòi hỏi quá trình xác lập loại tài sản vô hình này phải là sự kết tinh trí tuệ của lao động tập thể có được nhờ sự phối hợp chặt chẽ, nghiêm túc giữa nhiều bên: từ tác giả nội dung sáng tạo gốc đến đại diện nhà đầu tư/sản xuất/khai thác dự kiến, các chuyên gia về lập dự án, tài chính (tư vấn về thị trường, kế hoạch kinh doanh, thẩm định giá, quản trị rủi ro …), chuyên gia pháp lý (hỗ trợ soạn thảo các tài liệu pháp lý), chuyên gia tư vấn hoặc các tổ chức xã hội nghề nghiệp khác liên quan đến sản phẩm gắn với các lĩnh vực khoa học, nghệ thuật liên ngành cần tham vấn chuyên môn.

Việc xem xét quyết định đầu tư của quỹ đầu tư mạo hiểm hay việc tham gia góp vốn đầu tư hoặc bảo lãnh vay vốn đều phải dựa trên bộ hồ sơ chứng minh giá trị tiềm năng của tài sản sáng tạo văn hóa cho thấy, cần có sự vào cuộc từ sớm của toàn bộ hệ sinh thái công nghiệp văn hóa. Cần nghiên cứu luật hóa cơ chế định giá tài sản sáng tạo văn hoá, gắn với việc xác lập nguyên tắc pháp luật phản ánh nội hàm “dòng tiền là tài sản” đối với các hồ sơ dự án công nghiệp văn hóa có phương án kinh doanh dựa trên khai thác tiềm năng thu nhập từ các tác phẩm, công trình sáng tạo dựa trên các IP gốc (tác phẩm, kiểu dáng, bản vẽ thiết kế gốc), bao gồm xác định rõ quyền khai thác thương mại đối với IP phái sinh (thiết kế tạo hình nhân vật, bộ nhận diện sản phẩm… có khả năng mở rộng kinh doanh sang ứng dụng ở các sản phẩm có chức năng tiêu dùng), đồng bộ hóa với quy định về tài sản sáng tạo số (mô hình không gian 3D, thư viện ảo, bảo tàng số, sách số… ).

Tất nhiên, để cho mọi hồ sơ dự án không bị tắc nghẽn do vẫn không được nhận thế chấp, bảo lãnh vay như đối với tài sản hữu hình, cần nghiên cứu sửa đổi, hoàn thiện đồng bộ các quy định có liên quan trong Bộ luật dân sự, Luật PPP, Luật quản lý, sử dụng tài sản công, Luật các tổ chức tín dụng, Luật thi hành án dân sự… nhằm bổ sung quy định thực hiện các quyền tài sản phát sinh (gắn với các hợp đồng thành phần tương ứng) liên quan đến thu nhập dòng tiền trong tương lai của sản phẩm công nghiệp văn hóa, góp phần khắc phục hạn chế trong tư duy cứng nhắc của khoa học pháp lý so với tư duy linh hoạt của kinh tế học.

Cần có quy định chi tiết về cơ chế định giá tài sản sáng tạo văn hóa theo hướng minh bạch, khách quan cả về giá trị, bản sắc văn hóa cũng như xác định tiềm năng thu nhập dòng tiền tương lai trong chuỗi giá trị, tạo cơ sở pháp lý để xem xét cấp hạn mức tín dụng, bảo lãnh đối với các dự án công nghiệp văn hóa.

Một sáng kiến chính sách quan trọng, hợp lý trong dự án Luật là sàn giao dịch công nghiệp văn hóa. Chính xác, đây nên được xác định là “sàn giao dịch tài sản sáng tạo văn hóa” với tính chất là thị trường thứ cấp tập trung để chào bán các dự án công nghiệp văn hóa công khai nhằm tạo kênh thanh khoản; đồng thời, là kênh thoát vốn cho các giao dịch đầu tư mạo hiểm đã vượt qua giai đoạn sáng tạo, thử nghiệm để bước vào giai đoạn sản xuất thương mại; cho phép bảo lãnh tín dụng, thế chấp đối với các dự án hoặc start-up công nghiệp văn hóa phù hợp với từng loại sản phẩm, từng ngành công nghiệp văn hóa tại các tổ chức tài chính nhà nước hoặc có vốn nhà nước.

image-1768283128276926821754.png
“Văn hóa soi đường” trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Ảnh minh họa: baochinhphu.vn

Mặt khác, pháp luật cần đồng thời đặt ra giới hạn “cấp vốn mồi” (từ nguồn vốn Nhà nước góp) trong quỹ đầu tư mạo hiểm hợp tác công tư (đó là các quỹ văn học, nghệ thuật của Trung ương và địa phương) cho sản xuất sản phẩm công nghiệp văn hóa. Quan trọng hơn cả, để giải phóng nỗi sợ trách nhiệm trong quản lý vốn đầu tư nhà nước, Luật cần quy định rõ nguyên tắc chấp nhận rủi ro và miễn trừ trách nhiệm ngay tình trong các trường hợp cụ thể về đầu tư, cho vay, bảo lãnh vay đối với dự án công nghiệp văn hóa ở các ngành sáng tạo nội dung văn hóa (nên hạn chế áp dụng nguyên tắc này đối với dự án công nghiệp văn hóa ứng dụng để tránh lạm dụng, trục lợi).

“Giải phóng” nguồn lực hạ tầng gắn với chống lãng phí và tái cấu trúc mô hình tăng trưởng dựa trên giá trị sáng tạo văn hóa

Mâu thuẫn giữa các mục tiêu, nhiệm vụ quản lý nhà nước đơn ngành, đơn lĩnh vực đối với tài sản công là đất đai và công trình thuộc sở hữu, có vốn nhà nước, có nguy cơ xung đột hoặc đang xung đột trực tiếp về lợi ích giữa các bên liên quan chính là “bẫy cơ chế” lớn nhất, khiến chưa thể giải phóng nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa, dẫn đến lãng phí nguồn lực to lớn, dài hạn mà hiện không ai phải chịu trách nhiệm.

Việc giải phóng nguồn lực hạ tầng phục vụ cho phát triển công nghiệp văn hóa sẽ giúp cho chính quyền địa phương thoát khỏi tình trạng lãng phí; đồng thời, giải quyết được nhiều nhiệm vụ chiến lược phù hợp với tư duy quản trị địa phương hiện đại như: phá vỡ tư duy quản trị phân mảnh và tái sử dụng thích ứng; tái tạo nguồn vốn hạ tầng đô thị từ kinh tế tri thức thay cho mô hình “thâm dụng địa ốc” phổ biến hiện nay; hướng tới công bằng xã hội về không gian; xây dựng sức mạnh mềm và năng lực cạnh tranh quốc tế của địa phương; giữ gìn ký ức đô thị…

Dự án Luật đưa ra cơ chế sử dụng không gian cộng cộng cho hoạt động công nghiệp văn hóa là một bước tiến quan trọng, nhờ những nỗ lực quyết tâm triển khai thành công các sáng kiến phát triển kinh tế đêm kết hợp văn hóa di sản ở nhiều địa phương, đặc biệt là các đô thị du lịch lớn như: Hà Nội (các mô hình Không gian đi bộ Hồ Hoàn Kiếm và vùng phụ cận, Phố ẩm thực kết hợp đi bộ Đảo Ngọc – Ngũ Xã, Lễ hội thiết kế sáng tạo tại Nhà ga xe lửa Gia Lâm …); Thành phố Hồ Chí Minh (như Phố đi bộ Nguyễn Huệ, Đường sách đô thị Nguyễn Văn Bình …), Huế (Không gian di sản Đại nội về đêm, Phố đêm Trường Tiền …).

Nhưng chắc chắn chúng ta sẽ thấy được tiềm năng, hiệu quả lớn hơn nữa nếu có các không gian sáng tạo văn hóa toàn thời gian trên quỹ đất của nhà trường, viện, trung tâm… là đơn vị sự nghiệp trong khu vực nội đô, như những cơ sở thực hành, trải nghiệm sáng tạo văn hóa, sau khi cơ sở chính được di dời sang các địa điểm mới. Trong tương lai, không chỉ đối với đất công trình sự nghiệp hay trụ sở dôi dư mà kể cả các khu công nghiệp, khu công nghệ phần mềm khi đầu tư đã đạt đến ngưỡng giới hạn hoặc do những chuyển biến khó lường của thị trường thế giới, cũng cần được xem xét chuyển đổi một phần hoặc toàn bộ sang mô hình công nghiệp văn hóa, thể thao tập trung. Khi đó, một khu liên hợp phim trường kết hợp công viên chuyên đề có thể được cải tạo từ nhà xưởng trong một khu công nghiệp đóng tàu hoặc chế biến khoáng sản ở các địa phương như: Quảng Ninh, Lâm Đồng, Thanh Hóa…

le-hoi-ao-dai.jpg
Lễ hội Áo dài du lịch Hà Nội năm 2024. Ảnh: Hà Trang

Để hạn chế nguy cơ tiêu cực trong quá trình thực hiện, cần bám sát các mục tiêu đề ra trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, 5 năm để triển khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất linh hoạt thông qua việc áp dụng cơ chế liên thông về thủ tục quản lý sử dụng đất đai, tài sản công, cụ thể theo hướng:

Chủ sử dụng đất được chuyển đổi công năng lâu dài để thực hiện dự án đầu tư hạ tầng tập trung (cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa), đồng bộ với việc được điều chỉnh quy hoạch, chuyển đổi mục đích sử dụng đất phù hợp mà không bị thu hồi, đấu giá lại quyền sử dụng đất đối với mảnh đất đang sử dụng. Nghiên cứu gỡ bỏ những hạn chế về ngành nghề kinh doanh để các doanh nghiệp có vốn nhà nước, các đơn vị sự nghiệp thực hiện tự chủ đang là chủ sử dụng đất được phép thực hiện đầu tư theo hướng chỉ cần có 1 ngành nghề hoạt động liên quan đến công nghiệp văn hóa (thủ tục thanh lý hoặc cho phép cải tạo đối với tài sản có vốn nhà nước trường hợp này cũng cần được sửa đổi để tạo thuận lợi).

Chủ sử dụng đất được trực tiếp thực hiện hoặc tổ chức đấu thầu cho thuê vận hành tạm thời đối với dự án tổ hợp sáng tạo văn hóa với thời hạn từ 3 năm đến tối đa 5 năm, tuỳ theo quy mô đầu tư, tính chất, hiệu quả khai thác (thực hiện cơ chế “thí điểm”). Đồng thời, được cho phép chuyển đổi công năng, bổ sung mục đích sử dụng đa mục đích đối với công trình trên đất nếu thấy đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện của loại hình dự án này.

Trường hợp quá trình thực hiện, chính quyền địa phương xét thấy dự án phát huy hiệu quả kinh tế - xã hội toàn diện trong khi không có nhà đầu tư lớn quan tâm thì có thể cho điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, thanh lý tài sản trên đất đã hết khấu hao. Bên cạnh đó, cần quy định rõ các biện pháp kiểm soát chặt việc lợi dụng cơ chế này để trục lợi, gây thất thoát cho ngân sách nhà nước hoặc khai thác không đúng mục đích cho công nghiệp văn hóa.

Phân cấp cho chính quyền địa phương được ban hành một số quy chuẩn kỹ thuật lồng ghép khai thác sử dụng đa ngành đối với các thiết chế, công trình xây dựng (giao thông, thể thao và các không gian công cộng khác) phục vụ cho phát triển công nghiệp văn hóa.

img0762-1756796361511406971337.jpg
Khối đại diện 54 dân tộc Việt Nam tham gia Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9. Ảnh: Tuấn Anh

Hoàn thiện khung năng lực nghề nghiệp cho công nghiệp văn hóa

Phát triển công nghiệp văn hóa ở trình độ cao không chỉ đòi hỏi tiêu chuẩn hoá cả quy trình sản xuất, sản phẩm mà cả nguồn nhân lực cũng phải chuyên nghiệp hóa đáp ứng yêu cầu khung năng lực nghề nghiệp thích hợp cho các vị trí trong hệ sinh thái. Khung năng lực nhân lực công nghiệp văn hóa là một nội dung đề xuất của dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa. Về cơ bản, khung năng lực nghề nghiệp cần được hình thành tương ứng với các chủ thể chính tham gia vào chuỗi giá trị trong hệ sinh thái, bao gồm các nhóm chủ yếu: (1) Nhân lực sáng tạo nội dung và biểu đạt văn hóa, nghệ thuật; (2) Nhân lực dịch vụ tư vấn; (3) Nhân lực công nghệ; (4) Nhân lực quản trị và điều hành dự án/doanh nghiệp.

Bên cạnh nhiều vị trí trong các ngành công nghiệp văn hóa trong nước đang có, còn rất nhiều vị trí với khung năng lực nghề nghiệp tương ứng chưa được chuẩn hóa theo kinh nghiệm quốc tế. Từ đó, dẫn đến thực trạng các quy định của pháp luật hợp đồng và pháp luật lao động trong nước chưa theo kịp. Rất dễ nẩy sinh các tranh chấp, đặc biệt cơ chế đầu tư để đào tạo và giữ chân các tài năng trẻ trong các công ty công nghiệp văn hóa cũng như trong áp dụng các chính sách ưu đãi phù hợp để tạo điều kiện cho việc thuê các chuyên gia công nghiệp văn hóa nước ngoài đến làm việc, hỗ trợ đào tạo nhân lực trong nước.

Pháp luật cần giải quyết được những bất cập này, bên cạnh các chính sách thu hút nhân tài và đầu tư cơ sở vật chất phục vụ đào tạo đang được đề xuất trong dự án Luật. Cùng với đó, cần cho phép mở các ngành đào tạo mới với tư duy, phương pháp đào tạo mới về công nghiệp văn hoá gắn với thực tiễn áp dụng quy trình khai thác, sử dụng nhân lực chuyên nghiệp trong chuỗi giá trị.

Kích thích mạnh mẽ hơn bằng hệ thống đòn bẩy ưu đãi, hỗ trợ tài chính, tín dụng

Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thông thường hiện chưa “mặn mà” trong đầu tư vào lĩnh vực này. Để các ưu đãi thực sự trở thành đòn bẩy chính sách hiệu quả, cần nghiên cứu áp dụng đồng bộ, hiệu quả đối với các doanh nghiệp, các đơn vị sự nghiệp, cá nhân tham gia trong hệ sinh thái:

Đối với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh ngoài ngành văn hóa, nghiên cứu áp dụng ưu đãi lớn hơn về thuế thu nhập doanh nghiệp. Cũng có thể đề xuất thí điểm cơ chế khấu trừ tăng thêm thuế thu nhập doanh nghiệp (như đối với chi phí nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo trong Luật Thủ đô) đối với chi phí hợp đồng quảng bá sản phẩm lồng ghép hoặc mua quyền khai thác bản quyền hình ảnh liên quan đến sản phẩm có bản sắc, giá trị nghệ thuật cao, phản ánh được tư tưởng thời đại Kỷ nguyên mới (tuỳ theo tính chất sản phẩm gắn với mục tiêu, yêu cầu quảng bá).

1789731160917_1993637105991951676_7951425724526044111_75c306d5c3cfc23186fac7fedd5789e1_watermarked.jpg
Trong kỷ nguyên số, cần đổi mới giáo dục văn hóa nghệ thuật cả về nội dung, phương thức và cách tiếp cận người học. Ảnh: Ng. Phương

Ưu đãi lớn hơn về thuế suất thu nhập doanh nghiệp (giảm thuế trong thời gian nhất định) đối với thu nhập phát sinh và về thuế giá trị gia tăng liên quan đến sản xuất, phân phối các dòng sản phẩm công nghiệp văn hóa ứng dụng (sản phẩm phái sinh) mang giá trị, bản sắc Việt (thời trang, quà tặng, thiết kế …) được thương mại hoá từ nhượng quyền khai thác tài sản sáng tạo văn hóa.

Đối với các doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân tham gia quan hệ kinh doanh trong các ngành công nghiệp văn hoá trọng điểm, nghiên cứu áp dụng: ưu đãi lớn hơn về thuế thu nhập doanh nghiệp (giảm thuế suất phổ thông hoặc trong thời gian nhất định đối với một số lĩnh vực như: nghệ thuật biểu diễn, sản xuất phim, gallery nghệ thuật ...). Ưu đãi lớn hơn về thuế giá trị gia tăng (đối với tiền bán vé xem phim, xem biểu diễn nghệ thuật) và nới rộng thời hạn miễn thuế, giảm thuế cho các sản phẩm văn hoá số xuất khẩu (chương trình âm nhạc, game …).

Ưu đãi lớn hơn về thuế nhập khẩu thiết bị công nghệ cao phục vụ cho các dự án công nghiệp văn hóa); đánh giá hiệu quả của các hình thức ưu đãi đang được nhiều nước áp dụng đối với thu nhập từ tiền bản quyền của tác giả chuyển nhượng tác phẩm phái sinh vào sản xuất công nghiệp, để có lựa chọn áp dụng thích hợp.

Hỗ trợ một phần chi phí sản xuất đối với các sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm đối với các doanh nghiệp đã xuất khẩu thành công, khẳng định thương hiệu Việt trên thị trường quốc tế; được thế chấp quyền tài sản sáng tạo văn hoá (như hợp đồng chuyển nhượng bản quyền, hợp đồng quảng cáo lồng ghép sản phẩm văn hóa …).

Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước tham gia chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa, nghiên cứu cho phép được hợp tác công tư theo hình thức khoán thu, chia sẻ doanh thu từ bán vé, bán sản phẩm phái sinh thay vì bắt buộc thẩm định giá trị tài sản công. Đồng thời, có cơ chế phân chia lợi nhuận vượt trội cho viên chức, người lao động là những tác giả, nhóm tác giả trực tiếp tham gia nghiên cứu, sáng tạo ra sản phẩm hợp tác công tư.

Nghiên cứu miễn tiền thuê đất đối với diện tích khai thác, sử dụng liên doanh, liên kết cho các dự án phát triển sản văn hóa phi lợi nhuận hoặc hỗ trợ khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp văn hoá (đối với các trường đại học, viện, trung tâm ứng dụng có ngành nghề liên quan đến công nghiệp văn hóa).

Cung cấp các gói tín dụng chuyên biệt (bảo lãnh vay tín chấp dựa trên nguồn thu hợp pháp; cấp tín dụng; bảo lãnh thực hiện hợp đồng khi thực hiện đấu thầu, nhận đặt hàng) đối với các đơn vị sự nghiệp công lập có đề án, dự án hợp tác công tư hoặc thành lập doanh nghiệp công nghiệp văn hóa.

Đối với các cộng đồng bản địa liên quan, nghiên cứu áp dụng cơ chế, chính sách ưu tiên sử dụng dịch vụ tại chỗ đối với các tổ chức, cá nhân từ nơi khác tham gia đầu tư, sản xuất, cung cấp dịch vụ công nghiệp văn hóa. Có thể tham khảo kinh nghiệm của Hàn Quốc (tại Luật khung về phát triển công nghiệp văn hóa), theo đó nước này cho phép chính quyền cấp tỉnh quy hoạch các đơn vị hành chính trọng điểm (như phường) về công nghiệp văn hóa. Trong đó, các chủ thể trong hệ sinh thái có thể được hưởng nhiều hình thức ưu đãi, hỗ trợ như giảm tiền thuê văn phòng, các dịch vụ công và hợp tác công tư được cung ứng trong khu vực.

“

Trong kỷ nguyên mới, văn hóa không chỉ là hồn cốt thiêng liêng mà phải trở thành sức mạnh vật chất – tinh thần của quốc gia, dân tộc. Việc xây dựng thể chế cho phát triển công nghiệp văn hóa cần quan triệt đầy đủ quan điểm Đảng, Nhà nước, trong đó có việc triển khai thực hiện đúng tinh thần “Ba chuyển dịch lớn” trong phát triển văn hóa Việt Nam theo chỉ đạo của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.

Với cách tiếp cận đúng và đột phá, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa sẽ thực hiện được xuất sắc nhiệm vụ giải phóng mặt bằng thể chế ách tắc cho phát triển, như một “đại lộ” thông suốt xuyên thẳng qua hàng loạt trở ngại được dựng nên từ: các quy định, lề lối, tư duy chia cắt, phân mảnh, manh mún, lãng phí nguồn lực cố hữu để giải quyết được vấn đề căn cốt về chuyển hóa sức sáng tạo thành sức sản xuất mới dựa trên văn hóa bằng các quy luật khách quan.

TS. Đặng Xuân Phương