Bài 2: Nhận diện những lực cản thể chế kìm hãm chuyển hóa sáng tạo văn hóa thành sức sản xuất mới
Để chuyển hóa sáng tạo thành sức sản xuất mới dựa trên văn hóa trong thời đại Kỷ nguyên mới theo đúng tinh thần “Ba chuyển dịch lớn” và đột phá trong thể chế phát triển công nghiệp văn hóa, cần nhận diện những lực cản hể chế kìm hãm chuyển hóa sáng tạo văn hóa thành sức sản xuất mới.

TS. Đặng Xuân Phương
Bài 2:
Nhận diện những lực cản thể chế kìm hãm chuyển hóa sáng tạo văn hóa thành sức sản xuất mới
Để chuyển hóa sáng tạo thành sức sản xuất mới dựa trên văn hóa trong thời đại Kỷ nguyên mới theo đúng tinh thần “Ba chuyển dịch lớn” và đột phá trong thể chế phát triển công nghiệp văn hóa, cần nhận diện những lực cản thể chế kìm hãm chuyển hóa sáng tạo văn hóa thành sức sản xuất mới.
.

Chưa tích hợp, liên thông toàn diện dữ liệu để trở thành vốn tri thức
Trước hết, cơ chế quản lý, khai thác, sử dụng cục bộ, phân mảnh đang khiến tài nguyên tri thức văn hóa bị đứt gãy, chưa tích hợp được để trở thành vốn tri thức.
Trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa, tài nguyên tri thức (Knowledge Resources) có khả năng tái tạo không ngừng một cách phi thường và có điều kiện trở thành vốn tri thức (Knowledge Capital) nhờ thứ tài sản vô hình sở hữu trí tuệ (IP - Intellectual Property), bởi khi càng giải mã, tái diễn giải và sáng tạo phái sinh, giá trị tích lũy của tài nguyên này lại càng nở rộng.
.jpg)
Trong điều kiện nước ta hiện nay, bên cạnh những nguồn tư liệu và hiện vật văn hóa, lịch sử phong phú, quý giá do cá nhân sưu tầm chưa công bố, các đơn vị của Nhà nước hiện nắm giữ một kho tàng tài nguyên tri thức văn hóa, nghệ thuật theo dòng lịch sử vô cùng lớn, nhưng bị chia cắt theo tư duy quản lý theo ngành như: thư viện (tài liệu xuất bản), lưu trữ (hồ sơ tài liệu công, di sản tư liệu), bảo tàng (hiện vật văn hóa), cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học (kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ, tư liệu học thuật), các đơn vị phát thanh, truyền hình (tư liệu nghe nhìn)… và cả theo cấp hành chính, dẫn đến hình thành thói quen cố hữu muốn độc chiếm thông tin, tư liệu, hiện vật để dùng riêng ở từng tổ chức, cá nhân.
.jpg)
Trong quá trình ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số, tài nguyên tri thức tồn tại dưới dạng dữ liệu số do các cơ quan, tổ chức, cá nhân thu thập, tạo lập, tích luỹ từ ngân sách nhà nước ở từng bộ, ngành, địa phương nhưng chưa có chuẩn mực thống nhất nên các dữ liệu phản ánh nguồn tài nguyên tri thức vẫn bị đứt gãy, phân mảnh, tách biệt bởi các quy định pháp luật chuyên ngành, quy chế quản lý riêng rẽ của từng cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Đặc biệt, khoảng trống về quan điểm áp dụng vẫn hiện hữu rõ nhất giữa pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công với pháp luật về sở hữu trí tuệ. Hiện nay, ngoài các sản phẩm, kết quả hình thành từ việc thực hiện đề tài, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, các cơ quan, đơn vị của nhà nước chưa được trao tư cách chủ thể thực hiện quyền sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm, thành quả số hoá dữ liệu liên quan đến việc thực hiện các công trình, nhiệm vụ khác do nhà nước đầu tư, cấp vốn từ ngân sách.
Từ đó, dẫn đến một khối lượng lớn tài nguyên tri thức vẫn nằm nguyên và không được tích hợp để khai thác hiệu quả cho phát triển công nghiệp văn hóa, mặc dù nhu cầu tiếp cận của công chúng rất cao. Như vậy, tuy nhiệm vụ quản lý tài sản công đạt được song lại đặt ra một vấn đề lớn khác, đó là ai sẽ chịu trách nhiệm về tình trạng lãng phí đối với nguồn tài nguyên tri thức này.
Nguy cơ lớn hơn trong lĩnh vực văn hóa, đó là một khi kho tri thức văn hóa bản địa trong nước bị phân mảnh, khó tiếp cận thì những người sáng tạo nội dung, nhất là giới trẻ, đang phải tiếp nhận các sản phẩm văn hóa, giải trí trôi nổi, khó kiểm chứng trên không gian mạng. Đặc biệt là việc sử dụng công cụ AI toàn cầu được huấn luyện chủ yếu bằng dữ liệu nước ngoài, dẫn đến nguy cơ nhận thức lệch lạc, không chính xác về giá trị, bản sắc văn hóa Việt Nam.
Thiếu hành lang pháp lý cho phép huy động rộng rãi vốn đầu tư xã hội
Do tính cạnh tranh khốc liệt trên thị trường toàn cầu nên công nghiệp văn hóa đòi hỏi nguồn lực đầu tư rất lớn, trong khi các nguồn lực của nhà nước lại chưa đủ đáp ứng. Tuy nhiên, pháp luật chuyên ngành điều chỉnh các ngành, lĩnh vực văn hóa lại chủ yếu quy định nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước và các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, quỹ do cơ quan nhà nước thành lập (về bản chất phụ thuộc vào ngân sách nhà nước). Các nước thành công thường xuất phát từ kênh huy động vốn đầu tư xã hội rộng rãi là đầu tư mạo hiểm. Ở đây, chúng ta đang gặp phải một số vấn đề:
.jpg)
Thứ nhất, hành lang pháp lý về đầu tư mạo hiểm cho công nghiệp văn hóa chưa định hình hoàn chỉnh: loại hình quỹ đầu tư mạo hiểm hiện được cho phép hình thành để thúc đẩy đầu tư vào lĩnh vực phát triển công nghệ và văn hóa, nghệ thuật. Tuy nhiên, ngoài các quy định hiện hành về địa vị pháp lý và nguyên tắc đầu tư, pháp luật chưa định hình được hoàn chỉnh hành loại hình đầu tư này. Đầu tư mạo hiểm cho văn hóa, nghệ thuật luôn có những điểm rất khác biệt so với đầu tư thông thường, do sản phẩm văn hóa là “hàng hóa có tính trải nghiệm” - người tiêu dùng chỉ biết được giá trị thực của nó sau khi đã trải nghiệm. Vì vậy, nhà đầu tư không thể dùng các chỉ số thị trường thông thường để định giá một “tác phẩm” chưa ra đời.
Trên thực tế, các công cụ cấp vốn truyền thống thường thất bại khi áp dụng vào lĩnh vực văn hóa (khó cho vay do thiếu tài sản hữu hình thế chấp; e ngại tỷ lệ thất bại cao và chu kỳ thu hồi vốn kéo dài; khó huy động vốn qua thị trường chứng khoán do quy mô doanh nghiệp trong lĩnh vực này thường nhỏ, thậm chí khá đông là người sáng tạo độc lập). Vì vậy, quỹ đầu tư mạo hiểm hợp tác công tư là giải pháp được lựa chọn.
.jpg)
Dự thảo Luật chưa xác lập hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư phát triển doanh nghiệp và sản phẩm công nghiệp văn hóa theo các giai đoạn cơ bản, tương ứng với việc thiết kế các khâu cấp vốn của quy trình đầu tư mạo hiểm thường thấy trên thế giới, nên sẽ rất khó khăn để chào mời, khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân cùng tham gia.
Trong quy trình đầu tư nêu trên, “vốn mồi” (seed capital) được cấp từ quỹ đầu tư mạo hiểm và các nguồn tài trợ phi lợi nhuận chủ yếu dành cho giai đoạn đầu tiên có mức rủi ro cao hơn, đó là: giai đoạn sáng tạo (lên ý tưởng, thử nghiệm sáng tạo và hoàn thành tác phẩm, công trình). Từ đó, tạo điều kiện để huy động dòng vốn tư nhân tham gia vào giai đoạn quan trọng tiếp theo (đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn hơn về cơ sở vật chất và sản xuất cần vốn trung, dài hạn để thương mại hoá sản phẩm) cũng như cho các giai đoạn về sau: bảo đảm vận hành, duy trì và điều chỉnh quy mô đầu tư (cần sử dụng vốn lưu động, chi trả các khoản phải thu và các khoản vay ngắn hạn).
Đầu tư mạo hiểm là cơ chế cho phép giảm áp lực phải vay nợ ngắn hạn để tài trợ cho toàn bộ hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp văn hóa cần có thời gian đầu tư từ trung đến dài hạn. Thời gian triển khai tuỳ thuộc vào loại hình sản phẩm công nghiệp văn hóa và khả năng tồn tại trên thị trường (từ một vài năm ở một số show truyền hình thực tế, nghệ thuật biểu diễn, phim điện ảnh) đến 10 năm hoặc hơn (đối với các dự án thuộc ngành game).
Thứ hai, chưa có quy chế pháp lý đầy đủ về “tài sản sáng tạo văn hóa”, tạo thuận lợi cho việc thế chấp, bảo lãnh vay để đầu tư: những năm gần đây, ngày càng có nhiều đơn vị trong nước đã đầu tư lớn, nhất là các hãng phim tư nhân. Nhưng nguồn vốn rót cho các dự án này đều do nhà sản xuất tư nhân tự xoay xở. Với các quy định kiểm soát ngăn ngừa nợ xấu, các ngân hàng, công ty tài chính không thể cấp tín dụng cho dự án công nghiệp văn hóa, nếu không có tài sản hữu hình thế chấp. Hệ quả là, các đơn vị hoạt động điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn… thường xuyên trong tình trạng thiếu vốn lưu động, khó tích luỹ để tái đầu tư nâng cấp sản phẩm công nghiệp văn hóa trong môi trường cạnh tranh khốc liệt.
Những người đứng trên quan điểm nghệ thuật thuần tuý thường cho rằng sáng tạo nghệ thuật mới là yếu tố quan trọng nhất, thậm chí là “vô giá”. Song từ quan điểm kinh tế thị trường, việc không có quy chế pháp lý chuẩn đối với “tài sản sáng tạo văn hóa” khiến cho mọi kịch bản văn học hay, mọi bộ thiết kế tạo hình đẹp, chưa thể xem là tài sản đích thực. Không ai nhận thế chấp những sản phẩm sáng tạo vì hoàn toàn không có căn cứ để thu hồi nợ nếu dự án không thành công.
Mặt khác, việc không có cơ chế pháp lý rõ ràng cũng cho thấy luôn có rủi ro tiềm ẩn cho các bên liên quan, điển hình trong một số lĩnh vực: nghệ thuật biểu diễn (nhà sản xuất thu tiền vé trước nhưng không bị bắt buộc ký quỹ, bảo lãnh dẫn tới hành vi chiếm đoạt tiền vé), phim điện ảnh phát hành trên các nền tảng OTT (thiếu kiểm duyệt chặt chẽ xảy ra tranh chấp trong quá trình nhượng quyền), trò chơi điện tử trực tuyến (biến tướng cờ bạc), xuất bản (xâm phạm bản quyền diện rộng trên không gian mạng), quảng cáo (nội dung sai sự thật), mỹ thuật (tác phẩm phái sinh trái phép, rửa tiền qua đầu tư nghệ thuật)... Đây cũng chính là những hành vi đe dọa môi trường an ninh phi truyền thống của đất nước.
Thứ ba, cơ chế hợp tác công tư (PPP) trong lĩnh vực văn hóa còn hạn chế do thiếu quy định hướng dẫn cụ thể, bó buộc nhiều địa phương có tiềm năng: Luật đầu tư theo phương thức đối tác công tư đã được sửa đổi năm 2024 theo hướng mở rộng cơ chế PPP sang tất cả các lĩnh vực đầu tư công, trong đó có văn hóa, thể thao. Đồng thời, để tháo gỡ những bất cập trong pháp luật có liên quan, thời gian qua Chính phủ đã ban hành nhiều quy định mới liên quan đến quản lý, sử dụng tài sản công, nhất là tài sản kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư, quản lý (Nghị định số 186/2025/NĐ-CP và Nghị định số 178/2026/NĐ-CP). Theo đó, pháp luật đã cho phép thực hiện chuyển nhượng quyền thu phí, cho thuê quyền khai thác, phương thức khai thác tài sản công. Tuy nhiên, trên thực tế việc áp dụng các quy định mới còn rất khó khăn đối với phần lớn các địa phương do chưa có hướng dẫn thực hiện việc khai thác cụ thể đối với từng loại hình công trình, thiết chế văn hoá, thể thao, du lịch.
Ví dụ từ Bảo tàng Đà Nẵng gần đây cho thấy, ngay cả khi Nhà nước đã dành nguồn lực đầu tư cho một công trình mới, hiện đại (đi vào khai thác từ năm 2025) thì tiềm năng phát triển vẫn là rất lớn nếu có hình thức phù hợp. Lãnh đạo đơn vị sự nghiệp này trăn trở và ao ước du khách cả nước sẽ có cơ hội thưởng thức một bức tranh tròn panorama về trận chiến kiên cường tại Thành Điện Hải (1858 – 1860) của quân dân Đà Nẵng, đánh bại ý đồ xâm lược của liên quân Pháp – Tây Ban Nha. Tuy nhiên, loại hình thiết chế bảo tàng cần có cơ chế huy động vốn tư nhân hợp tác đầu tư dài hạn chứ không phải các hình thức hợp tác ngắn hạn, phải liên tục gia hạn hợp đồng.
Trên thực tế, ngoài thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh được áp dụng cơ chế đặc thù (theo Luật Thủ đô năm 2024 và Nghị quyết 98/2023/QH15 của Quốc hội), doanh nghiệp tư nhân và đơn vị sự nghiệp ở các địa phương khác đều chưa thể ký hợp đồng PPP cho khai thác các công trình, thiết chế văn hóa, thể thao công lập (bảo tàng, nhà hát, thư viện, nhà văn hóa, nhà thi đấu...) do vướng các quy định cụ thể đối với từng loại hình trong các quy định pháp luật có liên quan như: về xử lý tách bạch vốn tư nhân đầu tư với giá trị tài sản công, về quản lý, khai thác di sản văn hóa, về giá dịch vụ, về thẩm định vốn, dòng tiền, công năng, về quy chuẩn xây dựng công trình, về điều chỉnh quy hoạch chi tiết 1/500, về thực hiện nghĩa vụ bàn giao, cải tạo, vận hành thương mại, về giải quyết tranh chấp hợp đồng...
Trường hợp Viettravel đề xuất đầu tư Cụm Nhà hát Long – Phụng tại thành phố Hồ Chí Minh nhằm khôi phục công trình của Nhà nước hoạt động trở lại bình thường sau nhiều năm xuống cấp, cho thấy các vướng mắc như đã nêu trên và rõ ràng từ phương án PPP đến việc triển khai quyền khai thác trên thực tế vẫn còn là khoảng cách.
Những bất cập chủ yếu về hạ tầng phát triển công nghiệp văn hóa
Từ ách tắc trong thanh lý, chuyển đổi công năng tài sản công, không bảo đảm quy định về phòng cháy, bế tắc trong điều chỉnh mục đích sử dụng đất… cho đến đóng băng do “bẫy cơ chế”
Không chỉ có công trình, thiết chế văn hóa công lập mà cả mặt bằng đất đai, nhất là ở các đô thị và vùng ven, cũng rơi vào tình trạng khó khăn để trở thành nguồn lực hạ tầng cho phát triển công nghiệp văn hóa. Đã có rất nhiều bài học cho thấy thực tiễn đi trước thể chế khá xa, nhưng các nguồn lực hạ tầng này vẫn không được giải phóng khỏi sự xung đột giữa “rừng” quy định.
Chúng ta từng chứng kiến không ít cơ sở sản xuất công nghiệp, vận tải sau khi di dời nhà xưởng, thiết bị cũ kỹ đã biến vị trí thuận lợi đang nắm giữ thành các mô hình tổ hợp sáng tạo văn hóa (Creative Hub) nhằm khai giá trị kinh tế của ký ức đô thị. Trong đó, có những ý tưởng tuy được triển khai tự phát nhưng đã thu hút đông đảo giới văn hóa, nghệ thuật tại Hà Nội (như khu Zone 9 vào 2013), thành phố Hồ Chí Minh (Khu phức hợp Ga 0/Nhà Ga 3A Tôn Đức Thắng giai đoạn 2014 – 2017).
Các mô hình không gian sáng tạo này đều rơi vào tình cảnh mắc kẹt về thể chế liên quan đến: quy hoạch đất đai, quy chuẩn xây dựng công trình, quản lý sử dụng tài sản công, phòng cháy chữa cháy… nên sau một thời gian vừa khai thác, vừa loay hoay tìm cách tháo gỡ, rốt cuộc vẫn bị đóng cửa.
Việc buộc cơ sở sản xuất cổ phần hóa phải di dời khỏi các khu “đất vàng” nội đô do không còn phù hợp với mục tiêu phát triển của địa phương là hoàn toàn đúng đắn. Trong trường hợp này, nếu tiếp tục để đơn vị giữ quỹ đất được giao trước đây cho thuê mở xưởng thiết kế, bố trí gallery trưng bày và kinh doanh dịch vụ mà không thanh lý tài sản công, không thu hồi để đấu giá lại quyền sử dụng đất thì mức độ sai phạm đồng thời rất nghiêm trọng. Nhưng cả đơn vị sử dụng đất và người đi thuê mặt bằng cho phát triển không gian sáng tạo đều coi tình trạng này là “bẫy cơ chế” đối với tài sản đã sử dụng qua nhiều năm hoặc đã trót bỏ ra một số tiền không nhỏ cùng tâm huyết, đam mê sáng tạo với niềm tin mọi chuyện đều có thể giải quyết hợp lý.
Kể cả không gian sử dụng cho mục đích công cộng lẫn tài sản tư nhân đều gặp phải vấn đề xung đột giữa thể chế, lợi ích và nhu cầu phát triển văn hóa. Vô số mảnh đất sử dụng vào mục đích công cộng là những địa điểm ưa thích để hình thành các không gian sáng tạo văn hóa, dịch vụ giải trí gắn với kinh tế đêm, kinh tế hộ gia đình. Tại khu vực nội đô, không chỉ các không gian sử dụng cho mục đích công cộng mà cả khu tập thể, condotel, nhà xưởng, rừng sản xuất, mặt nước ao, hồ, đầm, ven sông, ven biển, đảo… cũng bị mắc kẹt trong do những hạn chế nghiêm ngặt về mục đích sử dụng đất.
Với việc pháp luật đất đai được hoàn thiện đồng bộ với các pháp luật chuyên ngành khác, chính quyền địa phương các cấp đã từng bước chỉnh đốn và chấm dứt, cưỡng chế giải toả các không gian văn hóa, dịch vụ tự phát này bằng các hoạt động thanh tra, kiểm tra chấp hành pháp luật, ngăn chặn nguồn lực tài sản công bị trục lợi, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và phòng ngừa những rủi ro liên quan đến tính mạng, sức khoẻ của người dân.
Nhưng cũng chính cách tiếp cận quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân theo mục đích sử dụng đơn lẻ lại không dung dưỡng các ý tưởng sáng tạo tự nhiên và khuyến khích đời sống văn hóa vật chất, tinh thần của xã hội nảy nở phong phú, hấp dẫn. Cũng vì vậy, nhiều địa phương có tiềm năng, thế mạnh muốn phát triển kinh tế đêm, kinh tế di sản (kể cả các đô thị trực thuộc trung ương như Quảng Ninh, Bắc Ninh, Khánh Hòa, Cần Thơ) nhưng cũng chưa có được lời giải thích hợp.
Hiện nay, chỉ có Thủ đô Hà Nội được thực sự được trao đủ quyền hạn để tháo gỡ những điểm nghẽn thể chế trong lĩnh vực này nhờ có Luật Thủ đô. Với các địa phương khác, để phát triển hạ tầng công nghiệp văn hóa, chắc chắn sẽ phải có những đề xuất thí điểm. Dự án Luật phát triển công nghiệp văn hóa có đề xuất áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), nhưng đây là mô hình phù hợp đối với các dự án đổi mới sáng tạo công nghệ trong trường hợp chưa có luật điều chỉnh hơn là giải quyết tình trạng vướng “bẫy cơ chế”, nên khó áp dụng để khuyến khích phát triển hạ tầng công nghiệp văn hóa trên diện rộng.
Thiếu hụt trầm trọng nhân lực chuyên nghiệp cho công nghiệp văn hóa
Câu chuyện của công ty Gami Hội An, đơn vị đầu tiên trong nước phát triển thành công chương trình nghệ thuật thực cảnh mang tên “Ký ức Hội An” từ năm 2018 đến nay (với số lượng nhân lực chuyên nghiệp thường xuyên lên đến vài trăm người tại công viên văn hóa chủ đề “Ấn tượng Hội An”) cho thấy, công nghiệp văn hóa đòi hỏi sự huy động tổng hợp nguồn nhân lực đa dạng tham gia.
Không nhất thiết và cũng không thể huy động được đủ những người được đào tạo chuyên nghiệp trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật tham gia vào các sản phẩm công nghiệp văn hóa quy mô lớn. Thay vào đó, có thể khai thác nguồn nhân lực là sinh viên tốt nghiệp từ các ngành có liên quan như thể thao, sư phạm, du lịch… miễn là có khả năng cảm thụ âm nhạc và sức khoẻ tốt.

Tham gia vào hệ sinh thái công nghiệp văn hóa gồm có: người trực tiếp sáng tạo, biểu diễn, thiết kế, kỹ thuật viên, người dẫn chương trình trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, truyền thông đến các nhà sản xuất, nhà quản lý, chuyên gia tư vấn trên mọi lĩnh vực liên quan (truyền thông, pháp lý, kinh tế tài chính, văn hóa, lịch sử, khoa học, công nghệ…) và kể cả lực lượng đông đảo những người hoạt động không chuyên (diễn viên quần chúng, người sáng tạo nội dung, bình luận viên…).
Trong hệ sinh thái này, tài năng sẽ xuất hiện ở mọi khâu, mọi vai trò được hoán đổi, thích nghi. Nghệ sĩ biểu diễn hay người sáng tạo nội dung hoàn toàn có thể trở thành nhà sản xuất, nhà phân phối sản phẩm, chuyên gia hoặc bất kỳ vị trí nghề nghiệp thích hợp trong tương lai, hoàn toàn do quá trình phát triển năng lực tự thân và cạnh tranh nghề nghiệp của họ trong hệ sinh thái công nghiệp văn hóa. Chính sự đào luyện “khắc nghiệt” đối với họ trong hệ sinh thái này sẽ cho “ra lò” ngày càng nhiều nhân tài công nghiệp văn hóa. Do đó, khi môi trường công nghiệp văn hóa chưa thực sự phát triển thì chưa thể đòi hỏi sẵn có nhân tài.
Việc đề xuất những cơ chế, chính sách thu hút, khuyến khích nhân tài công nghiệp văn hóa nhìn chung vẫn đang đi theo lối tiếp cận bảo tồn và phát triển văn hóa từ mấy chục năm qua. Nhưng nếu coi “nhân tài” phải có trước sự phát triển thì thực tiễn lại dẫn đến biểu hiện chạy theo bằng cấp, danh hiệu hình thức thay vì trân trọng giá trị lao động đích thực, sự tận tâm cống hiến trong môi trường cạnh tranh, là điều kiện tiên quyết để hình thành và phát triển nhân tài.
Hiện nay, tình trạng thiếu hụt trầm trọng nhân lực chuyên nghiệp ở nước ta là hệ quả của các tồn tại đặc trưng cho trình độ phát triển xã hội: tính chất lao động thời vụ, sáng tạo giản đơn, thiếu tính hiệp đồng, văn hóa e ngại phản biện chuyên môn, ít dám đương đầu với dư luận… Môi trường làm việc trong hầu hết ngành công nghiệp văn hóa chưa được nâng lên tiêu chuẩn công nghiệp hóa.
Do đó, cần có các chính sách phát triển nguồn nhân lực chuyên nghiệp hóa, trong đó yếu tố chuyên nghiệp chỉ xuất hiện thông qua sự vận hành chuỗi giá trị mang tính chất tiêu chuẩn hóa cao của toàn bộ hệ sinh thái (đề cao yêu cầu “sáng tạo” đi liền với chuẩn mực đạo đức, kỷ luật nghề nghiệp và cơ chế bảo đảm thực thi nghĩa vụ giao kết trên thị trường lao động).