Hoạt động của Đoàn ĐBQH

Hoàn thiện hành lang pháp lý về an ninh dữ liệu, định danh và xác thực điện tử

Lam Hà • 26/10/2026 22:35

Thảo luận tại Tổ 4 về dự án Luật An ninh dữ liệu và dự án Luật Định danh và xác thực điện tử, các ĐBQH tỉnh Quảng Trị tán thành sự cần thiết ban hành hai luật nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, bảo đảm an ninh dữ liệu và nâng cao độ tin cậy của các giao dịch điện tử; đồng thời, góp ý hoàn thiện các quy định, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và phù hợp với thực tiễn.

Bảo đảm tính thống nhất trong quản lý, bảo vệ an ninh dữ liệu

Góp ý về dự án Luật An ninh dữ liệu, ĐBQH Nguyễn Ngọc Hà (Quảng Trị) nhấn mạnh, dữ liệu là nguồn tư liệu quan trọng trong kỷ nguyên số, có liên quan đến nhiều lĩnh vực và chịu sự điều chỉnh của nhiều đạo luật như Luật An ninh mạng, Luật Dữ liệu, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và pháp luật về định danh, xác thực điện tử.

Theo đại biểu, mặc dù các luật hiện hành đã có những quy định liên quan đến dữ liệu, việc ban hành Luật An ninh dữ liệu vẫn cần thiết nhằm bổ sung cơ chế bảo vệ an ninh của chính dữ liệu trong suốt vòng đời, trước những nguy cơ mới như đầu độc dữ liệu phục vụ huấn luyện trí tuệ nhân tạo hoặc tấn công vào dữ liệu điều khiển hạ tầng.

img_6273(1).jpeg
ĐBQH Nguyễn Ngọc Hà (Quảng Trị) phát biểu

Đánh giá đây là bước tiến trong hoàn thiện pháp luật, đại biểu cho rằng, dự thảo Luật thể hiện cách tiếp cận chủ động phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ từ sớm, từ xa; đồng thời đón trước những vấn đề mới liên quan đến trí tuệ nhân tạo, các không gian công nghệ mới và mật mã kháng lượng tử.

Từ yêu cầu bảo đảm sự đồng bộ giữa các luật cùng điều chỉnh những vấn đề liên quan đến dữ liệu, đại biểu Nguyễn Ngọc Hà đề nghị tiếp tục rà soát nguyên tắc áp dụng pháp luật tại Điều 3, tránh chồng chéo, xung đột trong quá trình thực hiện.

Cụ thể, khoản 1 Điều 3 dự thảo quy định trường hợp luật khác có quy định khác về biện pháp quản lý, biện pháp kỹ thuật và thủ tục bảo đảm an ninh dữ liệu thì áp dụng Luật An ninh dữ liệu, trừ các trường hợp quy định tại khoản 2. Theo đại biểu, quy định ưu tiên áp dụng chung như vậy có thể dẫn đến xung đột với các luật có liên quan.

Đại biểu đề nghị bỏ khoản 1 Điều 3, đồng thời hoàn thiện việc phân định phạm vi áp dụng theo từng nội dung tại khoản 2. Việc rà soát cần dựa trên nguyên tắc đối chiếu giữa các hệ thống phân loại dữ liệu, xác định rõ phạm vi điều chỉnh của từng luật, tránh trùng lặp trong quản lý và tổ chức thực hiện.

Góp ý về thẩm quyền thẩm định an ninh dữ liệu tại Điều 11, đại biểu cho rằng, quy định Bộ Quốc phòng thẩm định an ninh dữ liệu đối với thông tin quân sự cần được hoàn thiện để bao quát đầy đủ các hệ thống xử lý dữ liệu cốt lõi trong lĩnh vực quốc phòng, bao gồm cả dữ liệu tại cơ quan quân sự địa phương và các cơ sở công nghiệp quốc phòng.

Từ đó, đại biểu Nguyễn Ngọc Hà đề nghị quy định rõ thẩm quyền của Bộ Quốc phòng trong việc chủ trì thẩm định các hệ thống xử lý dữ liệu cốt lõi thuộc lĩnh vực quốc phòng, bảo đảm phù hợp với yêu cầu quản lý, bảo vệ dữ liệu đặc thù.

Liên quan đến chuyển dữ liệu xuyên biên giới tại Điều 19, đại biểu đề nghị rà soát các trường hợp được miễn thủ tục hoặc áp dụng cơ chế cho phép riêng, nhất là đối với dữ liệu có cấp độ an ninh cao.

Cụ thể, khoản 10 Điều 19 cho phép mang dữ liệu cấp độ 4, cấp độ 5 không thuộc diện cấm ra nước ngoài khi được người đứng đầu cho phép. Theo đại biểu, cần bổ sung yêu cầu phải được cơ quan chuyên trách chấp thuận, bảo đảm thống nhất với quy định về thẩm định, chấp thuận tại điểm c khoản 3 cùng điều.

Đối với khoản 7 Điều 19, dự thảo quy định miễn thủ tục trong trường hợp chuyển dữ liệu để thực hiện quan hệ lao động, hợp đồng mà chủ thể dữ liệu là một bên, bao gồm cả dữ liệu cấp độ 4. Đại biểu đề nghị thu hẹp phạm vi miễn thủ tục, chỉ áp dụng đối với dữ liệu cấp độ 3, phù hợp với yêu cầu bảo đảm an ninh theo từng cấp độ dữ liệu.

Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị rà soát kỹ thuật lập pháp, chỉnh lý thứ tự đánh số các khoản tại Điều 2; đồng thời thống nhất cách phân loại, viện dẫn tại Điều 8 với dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia.

Đối với nội dung mật mã an ninh, đại biểu Nguyễn Ngọc Hà đánh giá việc trước mắt triển khai thí điểm trong phạm vi Bộ Công an, như Bộ trưởng Bộ Công an đã trao đổi tại hội trường, là hướng tiếp cận phù hợp... Theo đại biểu, cách làm này tạo điều kiện rút kinh nghiệm trong quá trình thực hiện, đồng thời góp phần giải đáp những băn khoăn về nguy cơ phân tán nguồn lực, khó bảo đảm liên thông nếu hình thành các hệ thống mật mã song song trong công tác bảo vệ bí mật nhà nước.

Tạo nền tảng tin cậy cho các giao dịch điện tử

Thảo luận về dự án Luật Định danh và xác thực điện tử, ĐBQH Nguyễn Thanh Liêm (Quảng Trị) cho rằng, các quy định của dự thảo có mối quan hệ chặt chẽ với Luật Giao dịch điện tử, Luật An ninh mạng, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và dự án Luật An ninh dữ liệu.

ĐBQH Nguyễn Thanh Liêm (Quảng Trị) phát biểu.
ĐBQH Nguyễn Thanh Liêm (Quảng Trị) phát biểu

Trong bối cảnh các hoạt động giao dịch trên môi trường số ngày càng phát triển, đại biểu đánh giá việc ban hành Luật Định danh và xác thực điện tử là cần thiết nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc xác định chủ thể, kiểm chứng thông tin và trách nhiệm trong giao dịch, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số toàn diện.

Quan tâm đến phạm vi đối tượng xác thực điện tử tại Điều 7, đại biểu cho biết dự thảo quy định 5 nhóm đối tượng, bao gồm cơ quan, tổ chức, cá nhân; sản phẩm, hàng hóa; các đối tượng phi vật chất; hành vi, địa điểm và không gian.

ĐBQH Nguyễn Thanh Liêm chia sẻ băn khoăn về phạm vi đối tượng xác thực tương đối rộng. Tuy nhiên, từ yêu cầu thực tiễn của giao dịch điện tử, đại biểu cho rằng việc quy định bao quát các nhóm đối tượng là cần thiết, bởi các giao dịch trên môi trường số không chỉ liên quan đến cá nhân, tổ chức mà còn gắn với nhiều đối tượng khác, tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích và trách nhiệm dân sự, kinh tế của các chủ thể.

Theo đại biểu, nếu không xác định đầy đủ đối tượng cần xác thực, việc quản lý giao dịch và xác định trách nhiệm khi phát sinh các quan hệ pháp lý trên môi trường điện tử sẽ gặp khó khăn. Vì vậy, phạm vi đối tượng xác thực cần có tính bao quát, tạo cơ sở để từng bước đưa hoạt động giao dịch điện tử đi vào thực chất.

Đại biểu cũng đánh giá việc gắn kết giữa đối tượng được định danh và đối tượng được xác thực, cùng các quy định về giá trị và trường hợp sử dụng xác thực điện tử tại Điều 29, góp phần bảo đảm tính liên thông giữa định danh và xác thực, nâng cao khả năng kiểm chứng và xác định trách nhiệm trong giao dịch.

Góp ý về các mô hình xác thực điện tử tại khoản 2 Điều 22, đại biểu cho biết dự thảo quy định 3 mô hình gồm: tập trung, trung gian và độc lập.

img_6278.jpeg
Toàn cảnh phiên thảo luận tổ

Theo đại biểu, mô hình tập trung có thể phát huy vai trò của các cơ sở dữ liệu quốc gia, đặc biệt là Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Trong khi đó, mô hình độc lập phù hợp với xu hướng tăng quyền chủ động cho các chủ thể trong quản lý, sử dụng thông tin và lựa chọn phương thức công nghệ.

Đại biểu đánh giá việc quy định đa dạng mô hình xác thực không chỉ đáp ứng yêu cầu hiện tại mà còn tạo hành lang pháp lý cho những phương thức giao dịch mới có thể hình thành trong tương lai.

Liên quan đến mức độ xác thực điện tử tại Điều 25, đại biểu cho biết dự thảo phân định 3 mức độ với các yêu cầu khác nhau về số lượng và nhóm yếu tố xác thực. Trong đó, mức độ 1 sử dụng một số yếu tố xác thực; mức độ 2 sử dụng từ hai yếu tố thuộc nhóm tri thức và nhóm sở hữu; mức độ 3 sử dụng tối thiểu hai yếu tố, trong đó có ít nhất một yếu tố thuộc nhóm đặc trưng.

Đại biểu Nguyễn Thanh Liêm cho rằng, việc phân định các mức độ xác thực tạo cơ sở lựa chọn phương thức phù hợp với tính chất và yêu cầu về độ tin cậy của từng giao dịch. Đồng thời, quy định tại Điều 26 về phương tiện xác thực tương ứng với từng mức độ và mô hình thực hiện góp phần bảo đảm tính đồng bộ trong triển khai.

Theo đại biểu, sự gắn kết giữa đối tượng xác thực, mô hình xác thực, mức độ xác thực và phương tiện sử dụng là cơ sở quan trọng để xác định trách nhiệm của chủ thể cung cấp dịch vụ, nâng cao độ tin cậy và hiệu quả quản lý các giao dịch điện tử.

Lam Hà