Ý kiến đại biểu

Bảo đảm yêu cầu đặc thù về quốc phòng trong quản lý, bảo vệ dữ liệu

Diệp Anh; ảnh: Khánh Duy • 26/10/2026 22:11

Thảo luận tại Tổ 10 (Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An và Đồng Tháp) chiều 26/10, về dự án Luật An ninh dữ liệu và dự án Luật Định danh và xác thực điện tử, ĐBQH Lương Đình Hưng (Nghệ An) đề nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định về thẩm quyền quản lý nhà nước, thẩm định, kiểm tra, đồng bộ và chia sẻ dữ liệu, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu đặc thù trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng.

Phân định rõ thẩm quyền quản lý, thẩm định và bảo vệ dữ liệu

Góp ý về dự án Luật An ninh dữ liệu, ĐBQH Lương Đình Hưng tán thành sự cần thiết ban hành Luật, đánh giá cao tinh thần khẩn trương, tích cực của cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc chuẩn bị hồ sơ dự án Luật công phu, kỹ lưỡng, nghiêm túc; tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến đóng góp của các cơ quan Trung ương, địa phương và ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp.

Từ góc độ quốc phòng, an ninh, đại biểu đề nghị tiếp tục rà soát các quy định của dự thảo Luật nhằm bảo đảm quản lý nhà nước thống nhất, phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cơ quan; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển, khai thác dữ liệu với bảo vệ chủ quyền, lợi ích và an ninh quốc gia. Đồng thời, bảo đảm tính đặc thù của lĩnh vực quân sự, quốc phòng và sự thống nhất, đồng bộ với pháp luật về dữ liệu, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo vệ bí mật nhà nước và công nghiệp công nghệ số.

ĐBQH Lương Đình Hưng (Nghệ An)
ĐBQH Lương Đình Hưng (Nghệ An) phát biểu

Góp ý về Điều 26, đại biểu thống nhất việc giao Bộ Công an chủ trì thực hiện quản lý nhà nước về an ninh dữ liệu. Tuy nhiên, khoản 3 Điều này quy định Bộ Công an thực hiện quản lý nhà nước về an ninh dữ liệu đối với hoạt động dân sự, kinh tế của doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng, trong khi khoản 6 chỉ xác định trách nhiệm của Bộ Quốc phòng đối với dữ liệu, hệ thống thông tin quân sự và hệ thống thông tin cơ yếu.

Theo đại biểu, cách quy định này chưa bao quát đầy đủ phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng, có thể dẫn đến chồng chéo, mâu thuẫn về thẩm quyền trong tổ chức thực hiện. Hoạt động của các doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng có tính chất đặc thù, gắn với yêu cầu kết hợp kinh tế với quốc phòng và thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trong những tình huống nhất định. Vì vậy, việc phân định thẩm quyền cần phù hợp với tính chất dữ liệu và yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia.

Từ đó, đại biểu Lương Đình Hưng đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định tại khoản 3 Điều 26 dự thảo Luật để làm rõ thẩm quyền quản lý nhà nước về an ninh dữ liệu đối với hoạt động dân sự, kinh tế của doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng.

Đối với thẩm quyền thẩm định, kiểm tra an ninh dữ liệu tại Điều 11 và Điều 26, đại biểu lưu ý các quy định liên quan đến dữ liệu, hệ thống thông tin có tính chất lưỡng dụng, vừa phục vụ hoạt động dân sự, kinh tế, vừa trực tiếp phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng.

Theo đại biểu, việc thẩm định, kiểm tra các hệ thống này không đơn thuần là đánh giá mức độ an toàn kỹ thuật mà còn liên quan đến yêu cầu bảo vệ bí mật quân sự, khả năng sẵn sàng chiến đấu và an toàn của hệ thống thông tin phục vụ nhiệm vụ quốc phòng.

Vì vậy, đại biểu đề nghị chỉnh lý điểm c khoản 2 Điều 11 và khoản 10 Điều 26 theo hướng: "Bộ Quốc phòng chủ trì thực hiện thẩm định, kiểm tra an ninh dữ liệu đối với dữ liệu thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng và đối với dữ liệu, hệ thống thông tin có tính chất lưỡng dụng phục vụ quốc phòng".

Đồng thời, cần quy định rõ cơ chế phối hợp giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Công an, bảo đảm thống nhất về nội dung, quy trình thẩm định, kiểm tra; tránh thực hiện trùng lặp đối với cùng một hệ thống nhưng vẫn đáp ứng đầy đủ yêu cầu đặc thù về bảo vệ quốc phòng, an ninh.

Các ĐBQH tỉnh Nghệ An dự phiên thảo luận
Các ĐBQH tỉnh Nghệ An tham dự phiên thảo luận tổ

Liên quan đến quy định về mật mã an ninh và mật mã cơ yếu tại Điều 16, đại biểu đề nghị tiếp tục nghiên cứu, chỉnh lý nhằm tránh chồng chéo về chức năng quản lý mật mã quốc gia, lãng phí nguồn lực đầu tư và thiếu đồng bộ trong áp dụng pháp luật.

Theo đại biểu, khoản 1 Điều 16 dự thảo Luật quy định mật mã an ninh là hệ thống sản phẩm, giải pháp kỹ thuật mã hóa do Bộ Công an quản lý để bảo vệ dữ liệu, bí mật nhà nước. Đồng thời, điểm a khoản 2 Điều 27 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 22 Luật Dữ liệu theo hướng cho phép sử dụng mật mã an ninh đối với dữ liệu thuộc danh mục bí mật nhà nước trong trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 16 Luật An ninh dữ liệu.

Đại biểu cho rằng, việc cho phép sử dụng mật mã an ninh để bảo vệ bí mật nhà nước cần được xem xét kỹ trong mối quan hệ với chức năng quản lý mật mã quốc gia của Ban Cơ yếu Chính phủ, tránh chồng chéo về thẩm quyền, lãng phí nguồn lực đầu tư và thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật.

ĐBQH Lương Đình Hưng (Nghệ An) phát biểu
ĐBQH Lương Đình Hưng (Nghệ An) phát biểu

Từ đó, đại biểu Lương Đình Hưng đề nghị chỉnh lý khoản 1 Điều 16 theo hướng: "Bộ Công an nghiên cứu, xây dựng, phát triển, sử dụng mật mã an ninh để bảo vệ an ninh dữ liệu thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công an"... Đồng thời, bổ sung một khoản độc lập quy định: "Bảo đảm dữ liệu thuộc danh mục bí mật nhà nước phải được mã hóa bằng mật mã của cơ yếu khi lưu trữ, truyền, nhận, chia sẻ trên mạng máy tính".

Bảo đảm an toàn dữ liệu định danh trong lĩnh vực quốc phòng

Đối với dự án Luật Định danh và xác thực điện tử, ĐBQH Lương Đình Hưng đồng tình và đánh giá cao nỗ lực của cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc chuẩn bị dự án Luật. Đại biểu cho rằng, đây là đạo luật có ý nghĩa quan trọng, tạo nền tảng pháp lý thúc đẩy tiến trình chuyển đổi số quốc gia.

Từ góc độ thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đại biểu tập trung góp ý về việc đồng bộ dữ liệu và trách nhiệm quản lý nhà nước, nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, hài hòa giữa mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội với yêu cầu bảo vệ Tổ quốc.

259a0146.jpg
Toàn cảnh phiên thảo luận tổ

Góp ý về khoản 2 Điều 33, quy định các cơ quan, tổ chức thực hiện hoạt động định danh phải đồng bộ dữ liệu về Cơ sở dữ liệu quốc gia về định danh và xác thực điện tử, đại biểu lưu ý tính đặc thù của dữ liệu định danh trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng.

Theo đại biểu, Cơ sở dữ liệu quốc gia về định danh và xác thực điện tử là hệ thống thiết yếu phục vụ dân sinh và Chính phủ điện tử. Tuy nhiên, dữ liệu định danh trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, như định danh nhân sự đặc thù, phương tiện tác chiến, trạm radar, phần lớn thuộc danh mục bí mật nhà nước, đòi hỏi cơ chế cách ly hoặc kiểm soát kết nối nghiêm ngặt. Việc áp dụng quy định đồng bộ dữ liệu một cách chung nhất có thể tiềm ẩn rủi ro đối với dữ liệu quân sự, quốc phòng.

Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung khoản 4 Điều 33 theo hướng không áp dụng quy định đồng bộ dữ liệu đối với dữ liệu định danh thuộc lĩnh vực quân sự, quốc phòng, cơ yếu. Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu của Bộ Quốc phòng với Cơ sở dữ liệu quốc gia về định danh và xác thực điện tử do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định, bảo đảm yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước.

Liên quan đến trách nhiệm quản lý nhà nước tại Điều 40, đại biểu cho biết, dự thảo Luật quy định Bộ Công an là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về định danh và xác thực điện tử; các bộ, ngành khác thực hiện quản lý theo lĩnh vực.

Để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và đặc thù của lĩnh vực quân sự, quốc phòng, đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tham chiếu Điều 35 Luật Quốc phòng năm 2018 về trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Quốc phòng; đồng thời đối chiếu với nguyên tắc phân định thẩm quyền giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong Luật Dữ liệu năm 2024, Luật An ninh mạng năm 2025 và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025.

Nhấn mạnh hoạt động định danh điện tử trong Quân đội mang tính đặc thù cao, liên quan trực tiếp đến quản lý quân nhân, trang bị, vũ khí và phương tiện tác chiến, ĐBQH Lương Đình Hưng đề nghị bổ sung vào khoản 2 Điều 40 quy định: “Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về định danh và xác thực điện tử thuộc phạm vi quản lý”.

Theo đại biểu, định danh và xác thực điện tử là một cấu phần quan trọng của hạ tầng số quốc gia. Vì vậy, việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cần được tiếp cận toàn diện, không chỉ từ yêu cầu phát triển và quản lý mà còn từ yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện dự thảo Luật theo hướng phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước, bảo đảm tính đặc thù của lĩnh vực quốc phòng, an ninh và sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật... Qua đó, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, giữ vững chủ quyền, an ninh quốc gia trên không gian mạng, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Góp ý về dự án Luật Định danh và xác thực điện tử, ĐBQH Vũ Thị Lan Anh (Nghệ An) cơ bản tán thành sự cần thiết ban hành Luật nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động định danh, xác thực điện tử, phục vụ chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân. Quan tâm đến các Điều 4, 8 và 11, đại biểu đề nghị làm rõ nguyên tắc tự nguyện trong định danh điện tử đối với các đối tượng không thuộc diện bắt buộc.

ĐBQH Vũ Thị Lan Anh (Nghệ An) phát biểu
ĐBQH Vũ Thị Lan Anh (Nghệ An) phát biểu

Theo đại biểu, khoản 1 Điều 8 quy định cơ quan nhà nước thực hiện hoạt động định danh điện tử theo mô hình Nhà nước đầu tư, thiết lập hệ thống, nền tảng đối với các nhóm đối tượng được quy định tại khoản này; trong khi khoản 2 quy định tổ chức, doanh nghiệp đủ điều kiện thực hiện hoạt động định danh điện tử đối với các đối tượng ngoài khoản 1 theo mô hình tự đầu tư, thiết lập hệ thống, nền tảng và cơ sở hạ tầng.

Đại biểu cho rằng, cần phân biệt rõ giữa việc xác định chủ thể có thẩm quyền, đủ điều kiện thực hiện hoạt động định danh điện tử với việc xác định đối tượng có nghĩa vụ bắt buộc tham gia định danh. Việc cho phép tổ chức, doanh nghiệp thực hiện định danh điện tử đối với các đối tượng ngoài khoản 1 Điều 8 không đồng nghĩa tất cả các đối tượng này đều phải thực hiện định danh thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ, kể cả trong trường hợp pháp luật không quy định bắt buộc.

Nếu không làm rõ, quy định có thể dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau trong thực tiễn; thậm chí, hoạt động định danh mang tính tự nguyện có thể trở thành yêu cầu bắt buộc trên thực tế khi doanh nghiệp tham gia một số hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc giao dịch, làm tăng chi phí tuân thủ trong khi chưa thực sự cần thiết để đạt được mục tiêu quản lý nhà nước.

Vì vậy, đại biểu đề nghị làm rõ nguyên tắc tự nguyện tại Điều 4 và cụ thể hóa tại khoản 2 Điều 8, theo hướng việc định danh điện tử đối với các đối tượng không thuộc diện bắt buộc được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Đồng thời, cần xác định rõ trong Luật điều kiện, thẩm quyền quyết định đối tượng phải thực hiện nghĩa vụ định danh, làm cơ sở để Chính phủ quy định chi tiết.

Đại biểu cũng đề nghị rà soát Điều 11 và các quy định liên quan trong dự thảo nghị định, bảo đảm thống nhất về quyền, trách nhiệm của tổ chức cung cấp dịch vụ và chủ thể có đối tượng được định danh. Theo đó, việc tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ quyết định danh mục đối tượng cung cấp dịch vụ và lộ trình triển khai không làm phát sinh nghĩa vụ định danh bắt buộc đối với các chủ thể liên quan, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; tránh cách hiểu rằng tất cả các đối tượng ngoài khoản 1 Điều 8 đều phải thực hiện định danh.

Diệp Anh; ảnh: Khánh Duy